TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 20 - 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm.
Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Kiều Văn Thọ;
- Ông Phạm Trường Giang;
- Bà Lê Kim Thủy;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh G, sinh ngày 01/01/1972; tại huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị Kim N (chết); có 02 người con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2000); tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: tốt; bị bắt tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn T – Luật sư Văn phòng L4 thuộc đoàn luật sư tỉnh H. Có mặt.
- Bị hại:
- Phùng Thị L, sinh năm: 1966 (đã chết).
- Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1974 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Thị L:
- Lê Hoàng T1, sinh năm: 1962. Có mặt.
- Lê Hoàng T2, sinh năm: 1991. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Lê Hoàng V, sinh năm: 2001; Địa chỉ: G.4, 51373 Leverkusen, G1; vắng mặt.
- Lê Thị Cẩm H1, sinh năm: 1988; Địa chỉ: G.4, 51373 Leverkusen, G1; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn L1:
- Cổ Thị C, sinh năm: 1975. Có mặt.
- Nguyễn Ngọc Kim N1, sinh năm: 1998. Có mặt.
- Nguyễn Ngọc Tường V1, sinh ngày 19/11/2007 (người đại diện theo pháp luật là bà Cổ Thị C). Không triệu tập.
Cùng địa chỉ: Số E M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng:
- Mai Hoàng L2, sinh năm: 1966; có mặt.
- Tăng Thị B, sinh năm: 1953; vắng mặt.
- Mai Hồng T3, sinh năm: 1975; có mặt.
- Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1950; có mặt.
- Nguyễn Văn L3, sinh năm: 1951; vắng mặt.
- Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm: 1965; vắng mặt.
- Trần Thị Mỹ S, sinh năm: 1995; vắng mặt.
- Võ Thị N2, sinh năm: 1990; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thanh G và bà Mai Hồng T3 có quan hệ vợ chồng và có 02 người con chung. Đến năm 2018, G và bà Thích ly H4 nhưng hai người còn tình cảm nên vẫn sống chung với nhau. Tuy nhiên, sống chung một thời gian thì giữa T3 và G
chấm dứt mối quan hệ sống chung với nhau như vợ chồng, nên G đã di chuyển ra ngoài thuê căn nhà tại ấp N, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang để ở. Trong thời gian này, T3 được ông Lê Hoàng T1 và vợ tên Phùng Thị L giới thiệu Nguyễn Văn L1 để quen biết và tìm hiểu nhau.
Biết mối quan hệ giữa T3 và L1 nên vào khoảng 21 giờ ngày 10/6/2024, G mang theo một bình xịt hơi cay và 02 cây dao mắc hai bên quần rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 95E1-539.33 đi đến cầu T trên tuyến quốc lộ A thuộc huyện P, tỉnh Hậu Giang quan sát thì thấy Phùng Thị L có tổ chức tiệc nhậu gồm: Thích, L, L1, T1 cùng Mai Hoàng L2, Tăng Thị B, Trần Thị Mỹ S.
Thấy vậy, G điều khiển xe đến đậu tại vị trí gần nhà của L rồi mang dép đi bộ vào trong nhà dùng bình xịt hơi cay xịt vào mọi người, T1 cầm ghế nhựa đánh trả nhưng không trúng G. Lúc này, bình xịt hơi cay hết hơi nên G ném lại hiện trường đồng thời lấy ra 02 cây dao cầm trên hai tay, mũi dao hướng về phía trước xông vào, L1 bỏ chạy vào nhà vệ sinh ngồi bệt xuống nền nhà và lưng dựa vào tường thì G đứng đối diện dùng dao đâm nhiều cái trúng vào ngực, chân. Quá trình bị G đâm thì L1 dùng tay chống đỡ.
Sau đó, G đi ra phía trước thì gặp L ở trước cửa nhà nên nhớ lại việc L đã giới thiệu, mai mối T3 và L1 quen nhau nên G dùng dao đâm L 2 cái trúng vào ngực, bụng. L bỏ chạy ra ngoài, G đuổi theo và từ phía sau dùng dao đâm thêm 01 cái trúng vào lưng của L, rồi rời khỏi hiện trường. Hậu quả: Phùng Thị L và Nguyễn Văn L1 tử vong. Đến ngày 11/6/2024 thì G bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Tại Kết luận giám định tử thi số 59/KLGĐTT-TTPY ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận đối với bị hại Nguyễn Văn L1:
- Các kết quả chính:
- + Đa vết đứt da.
- + Đứt đa xương.
- + Khoang ngực hai bên chứa nhiều máu loãng.
- + Thủng mặt trước thùy trên phổi phải.
- + Thủng mặt trước thùy giữa phổi phải.
- + Thủng mặt trước thùy trên phổi trái.
- + Thủng mặt trước thùy dưới phổi trái.
- + Đứt bao ngoài tim bên trái.
- + Đứt cơ tim thất trái vùng mõm tim.
- + Trong ổ bụng chứa máu loãng.
- + Đứt mặt hoành thùy gan phải.
- Kết luận nguyên nhân chết: Mất máu tối cấp do thủng đa tạng.
- Thời gian tử vong: < 06 giờ > 12 giờ.
- Cơ chế hình thành dấu vết: Các vết thương trên do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.
- Vật gây thương tích: Các vết thương trên do vật sắc nhọn gây nên (Bút lục số 112 – 113).
Tại Kết luận giám định tử thi số 60/KLGĐTT-TTPY ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận đối với bị hại Phùng Thị L:
- Các kết quả chính:
- + Đa vết đứt da.
- + Tụ huyết dưới da vùng bụng trái.
- + Đứt xương sườn số IX cung sau bên trái.
- + Trong ổ bụng chứa máu loãng và máu đông.
- + Thủng cơ hoành.
- + Thủng mặt tạng thùy gan trái.
- + Đứt cuốn lách.
- + Đứt đôi tụy, thủng bờ công lớn dạ dày.
- + Thủng bao thận và mặt sau thận trái.
- Kết luận nguyên nhân chết: Mất máu tối cấp do thủng đa tạng.
- Cơ chế hình thành dấu vết: Các vết thương trên do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.
- Vật gây thương tích: Các vết thương trên do vật sắc nhọn gây nên (Bút lục số 114 – 115).
* Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) cây dao dài 31 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 18.5 cm, rộng 4.15 cm; cán bằng gỗ có chui màu vàng.
- 01 (một) cây dao dài 30.5 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 18 cm, rộng 4.15 cm; cán bằng gỗ có chui màu vàng.
- 01 (một) xe máy biển số 95E1-539.33, đã qua sử dụng.
- 01 (một) khẩu trang y tế.
- 01(một) đôi dép bằng nhựa quai liền, màu xanh, trên dép có dòng chữ Fashion.
- 01 (một) bình xịt hơi cay, màu đen, có tay cầm (Bút lục số 158).
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSHG-P1 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thanh G về tội Giết người, theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt Bộ luật Hình sự).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội Giết người.
Áp dụng điểm điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 39 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G tù chung thân.
Về trách nhiệm dân sự đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho các người đại diện hợp pháp của các bị hại theo quy định pháp luật.
Về vật chứng đề nghị:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cây dao dài 31 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 18.5 cm, rộng 4.15 cm; cán bằng gỗ có chui màu vàng.
- 01 (một) cây dao dài 30.5 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 18 cm, rộng 4.15 cm; cán bằng gỗ có chui màu vàng.
- 01 (một) khẩu trang y tế.
- 01(một) đôi dép bằng nhựa quai liền, màu xanh, trên dép có dòng chữ Fashion.
- 01 (một) bình xịt hơi cay, màu đen, có tay cầm (Bút lục số 158).
* Trả lại cho bị cáo:
- 01 (một) xe máy biển số 95E1-539.33, đã qua sử dụng.
Phát biểu tự bào chữa, bị cáo không bào chữa.
Phát biểu bào chữa cho bị cáo, người bào chữa nêu quan điểm: thống nhất với cáo trạng về hành vi của bị cáo phạm tội Giết người. Bị cáo đã biết mình phạm sai lầm, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo cũng đã tác động tự nguyện khắc phục một phần hậu quả cho phía gia đình bị hại. Tại phiên tòa hôm nay có nộp bổ sung đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được rất nhiều người dân ở địa phương thống nhất và ký vào đơn đã gửi cho Hội đồng xét xử xem xét, ngoài ra bị cáo trước giờ sống ở địa phương cũng không có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt pháp luật. Mong hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo mức án phù hợp, để bị cáo có cơ hội được sửa chữa những lỗi lầm.
Các bị hại phát biểu ý kiến:
Ông Lê Hoàng T1: thống nhất với quan điểm, đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Ông Lê Hoàng T2: cho rằng mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp với hậu quả bị cáo gây ra, nên cần có mức án nghiêm khắc hơn.
Bà Cổ Thị C: Xét thấy sự việc đã xảy ra, có xử nặng bị cáo cũng không bù đắp được, bị cáo đã rất ăn năn hối hận về hành vi đã thực hiện, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội sống để cải tạo và khắc phục hậu quả đã gây ra ; Về trách nhiệm dân sự giữ nguyên yêu cầu.
Bà Nguyễn Ngọc Kim N1: Thống nhất với ý kiến của bà Cổ thị C, thống nhất với phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình của các bị hại, mong gia đình bị hại thứ lỗi cho bị cáo, bị cáo rất hối hận về hành vi đã thực hiện, bị cáo xin được có cơ hội để cải tạo trở thành người có ích cho xã hội và khắc phục hậu quả đã gây ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên toà: Đối với sự vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Thị L là ông Lê Hoàng V và bà Lê Thị Cẩm H1 do đang định cư tại Đức. Tuy nhiên quá trình điều tra ông V và bà H1 đã có đơn gửi về gia đình thể hiện ý kiến thống nhất với yêu cầu của bố ruột là ông Lê Hoàng T1. Tại phiên tòa ông T1 cũng xác nhận nội dung trên đơn và chữ ký là của ông V và bà H1. Ông cam kết sẽ thay mặt và chịu trách nhiệm về việc thay mặt ông V và bà H1 giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ án. Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Do đó sự vắng mặt của những người này tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.
[3]. Về tội danh: tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Tuy nhiên bị cáo cho rằng: mặc dù bị cáo và vợ ly hôn nhưng đó chỉ là hình
thức do bị cáo nợ nần sợ bị ảnh hưởng, còn trên thực tế bị cáo và vợ vẫn sống chung, đến khi phát hiện vợ có quan hệ tình cảm với ông L1 thì mới xảy ra mâu thuẫn và vợ bị cáo không cho ở cùng vì vậy bị cáo phải dọn ra ở bên ngoài, từ đó do bức xúc kéo dài nên mới xảy ra sự việc và trong lúc nóng giận không kiềm chế được bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi và gây ra hậu quả như cáo trạng đã truy tố. Xét thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Qua đó có đủ cơ sở xác định: xuất phát từ mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng với bà Mai Hồng T3, đồng thời cho rằng bà T3 có quan hệ tình cảm với ông Nguyễn Văn L1 do bà Phùng Thị L giới thiệu. Từ đó bị cáo nảy sinh ý định tìm ông L1 để giải quyết mâu thuẫn. Để thực hiện ý định của mình, bị cáo đã chuẩn bị hung khí và theo dõi trong nhiều ngày. Đến 21 giờ ngày 10/6/2024, khi phát hiện ông L1 tại nhà bà L, bị cáo đã có hành vi dùng dao tấn công đâm ông L1 nhiều nhát. Sau đó khi phát hiện bà L, bị cáo nhớ đến việc bà L giới thiệu cho ông L1 quen với vợ bị cáo, cho rằng bà L làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình bị cáo nên bị cáo tiếp tục dùng dao đâm bà L nhiều nhát, hậu quả dẫn đến ông L1 và bà L tử vong. Với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4]. Về khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh G dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng ngực, bụng, lưng là những vùng trọng yếu của cơ thể bị hại và đã tước đoạt sinh mạng của cả 02 bị hại đã phạm vào tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng là giết 02 người trở lên và hành vi của bị cáo cũng thể hiện tính chất côn đồ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 BLHS là có căn cứ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội chỉ vì thù hận ghen tuông, trong khi hôn nhân của bị cáo về mặt pháp luật không còn tồn tại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố Vì động cơ đê hèn nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng thêm tình tiết định khung được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự như vậy mới phù hợp với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[5]. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh G là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của các bị hại L1 và L một cách trái pháp luật, gây ra đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân, gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến kỷ cương pháp luật Nhà Nước. Do đó, đối với bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm chung.
[6]. Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành
vi đã thực hiện. Ngoài ra bị cáo đã tác động bồi thường cho gia đình ông L1 số tiền là 20.000.000 đồng khắc phục một phần hậu quả cho hành vi bị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của ông L1 cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác trong quá trình xét xử, bị cáo cũng được nhân dân tại địa phương nơi cư trú làm đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách nhân đạo và khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo bình thường là một người chấp hành tốt pháp luật được nhân dân nơi cư trú xác nhận, nhưng do nhất thời bức xúc trong chuyện tình cảm đã có hành vi vi phạm pháp luật gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo cũng đã ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện và mong có cơ hội để được chuộc lại lỗi lầm đã gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp bị hại Phùng Thị L yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền mai táng phí là 160.000.000 đồng và tiền bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật.
Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn L1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền mai táng phí là 129.310.000 đồng và tiền bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật. Đồng thời cấp dưỡng cho con chưa thành niên của ông L1 là Nguyễn Ngọc Tường V1, sinh ngày 19/11/2007 đến khi tròn 18 tuổi.
Đối với các yêu cầu của đại diện hợp pháp của người bị hại tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường tiền mai tang phí theo yêu cầu, đối với tiền tổn thất tinh thần bị cáo thống nhất bồi thường cho mỗi người bị hại số tiền theo mức quy định cao nhất của pháp luật là 100 lần tháng lương cơ sở tương đương 234.000.000 đồng, bị cáo cũng thống nhất cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Ngọc Tường V1 theo quy định. Xét thấy việc bị cáo thống nhất các khoản bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của các bị hại, đây là sự thỏa thuận tự nguyện của bị cáo không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đo đó Hội đồng xét xử ghi nhận.
Như vậy bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cụ thể như sau:
- Đối với thiệt hại của bà Phùng Thị L: Tiền mai tang phí 160.000.000đ; tiền bù đắp tổn thất tinh thần 2.340.000₫ X 100 = 234.000.000đ. Tổng cộng các khoản là: 394.000.000₫.
- Đối với thiệt hại của ông Nguyễn Văn L1: tiền mai tang phí là 129.310.000 + tiền bù đắp tổn thất tinh thần 2.340.000₫ X 100 = 234.000.000đ. Tổng cộng các khoản là 363.310.000đ, được khấu trừ 20.000.000đ bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông L1, còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 363.310.000đ – 20.000.000₫ = 343.310.000₫.
- Bị cáo phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên của ông Nguyễn Văn L1 là Nguyễn Ngọc Tường V1, sinh ngày 19/11/2007 đến khi đủ 18 tuổi, mỗi tháng bằng mức lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú theo quy định hiện hành là 4.410.000₫.
[8]. Về tài liệu, đồ vật đã thu giữ:
Các đồ vật bị thu giữ trong vụ án có liên quan đến tội phạm không còn giá trị thì tịch thu tiêu huỷ;
Đối với chiếc xe biển số 95E1-539.33 là xe của bị cáo dùng làm phương tiện đi lại không liên quan đến tội phạm thì hoàn trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục giao cho C1 thi hành án dân sự quản lý để khấu trừ nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.
[9]. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh G phạm tội “Giết người”.
Căn cứ điểm a, n, q khoản 1 Điều 123; Điều 40; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G tù chung thân. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/6/2024.
Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo G 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591 của Bộ luật Dân sự.
2.1. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị hại tại phiên tòa:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bà Phùng Thị L số tiền các khoản tổng cộng là 394.000.000 (Ba trăm chín mươi bốn triệu) đồng.
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn L1 số tiền các khoản tổng cộng là 343.310.000 (Ba trăm bốn mươi ba triệu ba trăm mười nghìn) đồng.
2.2. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh G phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Ngọc Tường V1, sinh ngày: 19/11/2007, mức cấp dưỡng mỗi tháng là 4.410.000 (Bốn triệu bốn trăm mười nghìn) đồng, cấp dưỡng hàng tháng cho đến khi cháu V1 đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 11/6/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự,
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cây dao dài 31 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 18.5 cm, rộng 4.15 cm; cán bằng gỗ có chui màu vàng.
- 01 (một) cây dao dài 30.5 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 18 cm, rộng 4.15 cm; cán bằng gỗ có chui màu vàng.
- 01 (một) khẩu trang y tế.
- 01(một) đôi dép bằng nhựa quai liền, màu xanh, trên dép có dòng chữ Fashion.
- 01 (một) bình xịt hơi cay, màu đen, có tay cầm.
* Trả lại cho bị cáo:
- 01 (một) xe máy biển số 95E1-539.33, đã qua sử dụng. Tiếp tục giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang quản lý để khấu trừ vào nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.
(Vật chứng được xác định theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKSHGP1 ngày 22/10/2024; kèm theo biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, vật chứng ngày 24/10/2024)
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh G chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm, 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng và 33.492.400 (Ba mươi ba triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Lâm |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội giết người
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt bị cáo tù chung thân
