Hệ thống pháp luật

BẢN ÁN SƠ THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án: 12/2025/HS-ST

Ngày: 19/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầm Tuấn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuyến

Bà Lê Thị Xuân Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nhật Vi Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện VKSND Quận 3, Tp. tham gia phiên tòa:

Ông Lê Đ – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Dương Cao Hiếu T, sinh năm 2001; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 417/88/10 Q, Phường A, quận G, TP .; Nơi ở hiện tại: I L, Phường F, quận G, TP .; nghề nghiệp: không ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H và bà Cao Hiếu T1; vợ,con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/9/2024 đến ngày 25/9/2024; bắt, tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến nay. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Ông Bành Gia V, sinh năm 2003.(có đơn vắng mặt tại phiên tòa)

Nơi thường trú: Khóm A, Phường B, Thành phố C, Tỉnh Cà Mau

Nơi ở hiện tại: 125/21/14 V, Phường C, Quận B, TP .

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Dương Văn H, sinh năm 1970; (có mặt tại phiên tòa)

Nơi thường trú: 417/88/10 Q, Phường A, Quận G, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết từ trước, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, anh Bành Gia V nhắn tin trên ứng dụng Instagram cho Dương Cao Hiếu T để hẹn đi chơi, T đồng ý và điều khiển xe ô tô hiệu Madza CX8, màu trắng, biển số 51H-926.70 đón anh V tại địa chỉ số E N, Phường E, quận G, sau đó cả hai đi mua cà phê tại quán K1 trên đường L, Quận G. Lúc này, T thấy anh V mở điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu trắng, dung lượng 256GB với mật khẩu là 000000 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của anh V để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T chở anh V trên xe ô tô hiệu Madza CX8, màu trắng, biển số 51H-926.70 đến trước địa chỉ số E H, Phường V, Quận C thì cả hai đậu xe để vào mua nước tại quán nước vỉa hè, T giả vờ nói điện thoại của T sắp hết pin và hỏi mượn điện thoại của anh V để gọi cho nhân viên công ty thì anh V đồng ý. Sau đó, Thảo cầm điện thoại của anh V, giả vờ gọi điện thoại rồi đi về phía xe ô tô của mình đang đậu, cách chỗ anh V ngồi khoảng 05 mét rồi điều khiển xe ô tô hiệu Madza CX8, màu trắng, biển số 51H-926.70 chạy đi. Lúc này, anh V phát hiện T lái xe đi mất nên có mượn điện thoại của người khác để gọi vào số điện thoại 0378.930.xxx trong máy Iphone 13 của mình. Biết anh V gọi điện thoại, T không nghe máy và đem điện thoại di động Iphone 13, màu trắng chiếm đoạt được của anh V về để ở phòng ngủ nhà T tại địa chỉ số I L, Phường F, quận G, tháo sim điện thoại, chặn tài khoản Facebook và cài đặt lại máy để anh V không liên lạc được. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, do không liên lạc được với T nên anh V đến Công an phường V, Quận C trình báo vụ việc.

Qua truy xét, ngày 27/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã mời Dương Cao Hiếu T về làm việc. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Cao Hiếu T tại số I L, Phường F, quận G thu giữ được 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu trắng và 01 sim điện thoại 4G Viettel số 0378.930.xxx của anh Bành Gia V; 01 quần short màu đen và 01 áo sơ mi đen, sọc trắng là quần áo T mặc khi thực hiện hành vi chiếm đoạt điện thoại của anh V.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an 3, qua test nhanh T dương tính với H1 và khai nhận toàn bộ hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của mình như trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Kiểm tra điện thoại di động hiệu Iphone 11 của Dương Cao Hiếu T, Cơ quan điều tra Công an Q phát hiện nhiều tin nhắn, hình ảnh trong ứng dụng Instagram của T có nội dung liên quan đến mua bán ma túy. T khai nhận đã nhắn tin với tài khoản “Ền chái na” và “Thy Lê” qua ứng dụng Instagram hỏi mua ma túy về sử dụng, cụ thể: Ngày 28/3/2024, T dùng tài khoản ngân hàng M1 số [...] đứng tên T chuyển khoản 4.200.000 đồng đến tài khoản ngân hàng T3 số 69997298888 đứng tên “Le Pham Minh Thy” để đặt mua ma túy loại Ketamine và thuốc lắc về sử dụng, sau đó tài khoản “Thy Lê” đặt shipper giao đến cho T tại địa chỉ số H L, Phường F, quận G. Đến ngày 29/3/2024, T nhờ 01 người khách (không rõ lai lịch) đến nhà T mua hàng và chuyển khoản 2.700.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T3 số 69997298888 đứng tên “Le Pham Minh Thy” để đặt mua ma túy loại Ketamine về sử dụng. Sau đó, “Thy Lê” đặt shipper giao ma túy đến địa chỉ số H đường số E, Phường A, Quận G thì T đến lấy rồi mang về phòng riêng tại nhà số I L, Phường F, Quận G để sử dụng một mình.

Đối với hình ảnh 03 thanh niên ngồi sử dụng ma túy trong điện thoại của T, T khai nhận là tải ảnh từ nhóm “Hội nghiện” trên ứng dụng Facebook.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành xác minh tài khoản ngân hàng T3 số 69997298888 đứng tên Lê Phạm Minh T2, kết quả: Lê Phạm Minh Thy có hộ khẩu thường trú tại Số E Đường B phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tuy nhiên không thực tế cư trú tại đây. Xác minh nơi ở tại số E Ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả tại địa chỉ trên không có ai tên Lê Phạm Minh T2 cư trú. Hiện Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai làm rõ sự việc.

Tại Cơ Quan cảnh sát điều tra Công an Q, Dương Cao Hiếu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Tại kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận C kết luận: Điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13 màu trắng, dung lượng 256GB, đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 6/2024 trị giá 10.633.000 đồng (Bút lục 48).

Vật chứng vụ án:

01 quần ngắn màu đen và 01 áo sơ mi đen, sọc trắng.

01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, số sêri: F18ZJ3YBN6Y9; số IMEI: 353845102567535 đã qua sử dụng.

01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu trắng, số sêri:W5G7J6P343 số IMEI: 352164231928795. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho anh Bành Gia V (Bút lục 26).

01 xe ô tô hiệu Madza CX8, màu trắng, biển số 51H-926.70. Qua xác minh, xe ô tô trên do ông Dương Văn H đứng tên chủ sở hữu. ông H khai nhận có cho T mượn xe ô tô để sử dụng cho việc đi lại, không biết việc T sử dụng xe để đi thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông Dương Văn H (Bút lục 37).

Về yêu cầu dân sự: anh Bành Gia V yêu cầu bồi thường số tiền 5.000.000 đồng vì bị Dương Cao Hiếu T xóa những dữ liệu cá nhân trong điện thoại Iphone 13, màu trắng, dung lương 256GB của mình (Bút lục 69).

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Dương Cao Hiếu Thảo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay :

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại: Ông Bành Gia V (vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn H (có mặt tại phiên tòa)

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Cao Hiếu T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam; Tịch thu và tiêu hủy 01 quần ngắn màu đen và 01 áo sơ mi đen, sọc trắng là phương tiện phạm tội; trách nhiệm dân sự: Anh Bành Gia V có đơn không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại cũng không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, là phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với nội dung Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an Phường V, Quận C lập ngày 26/6/2024 (BL51); phù hợp nội dung các lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Vì vậy Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Ngày 26/6/2024, sau khi biết được mật khẩu điện thoại di động của anh Bành Gia V, tại trước địa chỉ số E H, Phường V, Quận C bằng thủ đoạn gian dối Dương Cao Hiếu T hỏi mượn điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu trắng, dung lương 256GB (trị giá 10.633.000 đồng) của anh V để giải quyết việc cá nhân, khiến anh V tin tưởng giao tài sản rồi chiếm đoạt bỏ trốn.

[3] Xét về tính chất, nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng do động cơ tham lam ích kỷ và xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân nhưng không chịu lao động nên dẫn đến việc bị cáo phạm tội. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tuy nhiên cũng xét, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối lỗi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[5] Từ những cơ sở trên, nghĩ cần căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự quy định về căn cứ quyết định hình phạt, Điều 38 Bộ luật Hình sự quy định về tù có thời hạn; áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định về khung hình phạt áp dụng; áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

01 quần ngắn màu đen và 01 áo sơ mi đen, sọc trắng là phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu và tiêu hủy.

01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, số sêri: F18ZJ3YBN6Y9; số IMEI: 353845102567535 không liên quan đến vụ án nên giao trả lại cho Dương Cao Hiếu T.

01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu trắng, số sêri:W5G7J6P343 số IMEI: 352164231928795. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho anh B Gia V là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01 xe ô tô hiệu Madza CX8, màu trắng, biển số 51H-926.70. Qua xác minh, xe ô tô trên do ông Dương Văn H đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông Dương Văn H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi liên quan đến ma túy, Dương Cao Hiếu T khai nhận mua ma túy của 01 đối tương tên Lê Phạm Minh T2 về để sử dụng cá nhân, không vì mục đích mua bán kiếm lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với T và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với đối tương Lê Phạm Minh T2 là chủ tài khoản ngân hàng T3 số 69997298888 bán ma túy cho T. Qua xác minh, T2 hiện không thực tế cư trú tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q chưa ghi được lời khai làm rõ sự việc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đăng B1 và thông báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G phối hợp điều tra. Đồng thời đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra xử lý theo Quyết định số 3706 ngày 18/12/2024.

[7] Trách nhiệm dân sự: Anh Bành Gia V có đơn không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nghĩ nên chấp nhận.

[9] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Cao Hiếu T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Dương Cao Hiếu T.

Xử phạt: Dương Cao Hiếu T 01 (một) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.

Tịch thu và tiêu hủy 01 quần ngắn màu đen và 01 áo sơ mi đen, sọc trắng.

Giao trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, số sêri: F18ZJ3YBN6Y9; số IMEI: 353845102567535 cho Dương Cao Hiếu T.

(Tài sản tịch thu và tiêu hủy được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 1546/LNK-ĐTTH ngày 02/12/2024 của Cơ Quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tổng đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Xuyến Lê Thị Xuân M Trầm Tuấn K

Nơi nhận :

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - Công an quận 3;
  • - Nhà tạm giữ CAQ3;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q3;
  • - UBND Phường 6, Quận Gò Vấp , Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ (...)

BẢN ÁN SƠ THẨM

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trầm Tuấn Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger