TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 18-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Bé Hai
- Ông Võ Chí Sĩ
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13, 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn P, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp F, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B và con bà Nguyễn Thị T; có vợ và chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1 và con bà Phan Thị Đ; có vợ và có 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Huỳnh Thị Trúc L, sinh năm 1988 tại tỉnh Vĩnh Long; giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn H1 và con bà Đặng Thị M; có chồng và có 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1980 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C (chết) và con bà Nguyễn Thị L1; có vợ và có 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Đặng Thị M, sinh năm 1964 tại tỉnh Vĩnh Long; giới tính: Nữ; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn Ấ (chết) và con bà Trương Thị H2; có chồng và có 04 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: Hồ Văn N, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt); Nơi cư trú: Tổ G, ấp F, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 26/02/2024, Nguyễn Văn P rủ Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Huỳnh Thị Trúc L, Đặng Thị M vào nhà bếp của P thuộc tổ E, ấp F, xã T, huyện C đánh bài binh ấn độ 6 lá ăn tiền thì tất cả đồng ý, P mua 05 bộ bài tây loại 52 lá đem về chơi, khi chơi quy ước mỗi người làm cái 3 ván xoay vòng, mỗi bàn đặt thấp nhất 20.000 đồng đến 100.000 đồng, các bị cáo tham gia chơi được nhiều ván có người ăn cũng có người thua. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bị cáo H làm cái, các bị cáo còn lại đặt tụ thì bị lực lượng Công an xã T bắt quả tang. Tang vật thu giữ trên chiếu bạc (trên tấm nylon màu xanh đen trắng) số tiền 6.850.000 đồng (Trong đó, tiền dùng vào việc đánh bạc của bị cáo P là 150.000 đồng; bị cáo H là 4.000.000 đồng, bị cáo L là 2.050.000 đồng, bị cáo Đ1 là 350.000 đồng, bị cáo M là 300.000 đồng), 01 bộ bài tây 52 lá đang sử dụng và 01 tấm nylon màu xanh đen trắng. Ngoài ra còn thu giữ trên người của bị cáo L số tiền 5.500.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung A32, thu trong người bị cáo P 01 điện thoại di động Iphone 7, thu của bị cáo H 01 điện thoại di động OPPO A55 và của bị cáo M 01 điện thoại di động Redmi 12. Kiểm tra xung quanh thu giữ ngoài chiếu bạc 04 bộ bài tây chưa sử dụng.
Đối với số tiền 5.500.000 đồng của bị cáo L và các điện thoại đã thu giữ của các bị cáo được chứng minh không liên quan đến mục đích dùng để đánh bạc nên đã trả lại cho các bị cáo xong.
Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai những người có liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSHCL ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P và đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc như nội dung bản Cáo trạng miêu tả. Số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 6.850.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phân tích cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Huỳnh Thị Trúc L và Đặng Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo P, H, Đ1 từ 06 đến 09 tháng tù.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L từ 03 đến 06 tháng tù.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo M 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 đến 01 năm 06 tháng.
Các phần khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét như nội dung đề nghị của Cáo trạng.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho mức án thấp để về lao động chăm sóc gia đình, riêng bị cáo L đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo có điều kiện ở bên ngoài để chăm sóc con nhỏ và cha mẹ chồng đã lớn tuổi.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, các bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, vào khoảng 14 giờ ngày 26/02/2024 tại nhà bị cáo Nguyễn Văn P thuộc tổ E, ấp F, xã T, huyện C các bị cáo P, H, Đ1, L và M đã cùng nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức bài binh ấn độ 6 lá thì bị bắt quả tang và số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 6.850.000 đồng.
Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Do đó, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Từ những phân tích trên, có căn cứ khẳng định hành vi của các bị cáo đủ cơ sở cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như sau:
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3] Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ra ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý.
Trong vụ án này, các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ chỉ thực hiện đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, mức độ, tính chất hành vi của các bị cáo khác nhau nên cần xem xét đối với từng bị cáo.
Đối với bị cáo P là người chủ động rủ các bị cáo khác đến nhà bị cáo để đánh bạc ăn thua bằng tiền nên bị cáo P phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.
Các bị cáo H, Đ1, L và M biết đánh bạc là vi phạm pháp luật những khi bị cáo P rủ các bị cáo vẫn đồng ý tham gia. Do đó, các bị cáo cùng đồng phạm trong vụ án với vai trò thực hành nhưng mức độ, tính chất và nhân thân khác nhau nên cần xem xét đối với từng bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Nhận thấy, các bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, sau khi phạm tội bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo P thuộc diện gia đình có công cách mạng, ông nội Nguyễn Văn D là liệt sĩ; bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo L là lao động chính đang nuôi 02 con nhỏ đang tuổi đi học và chăm sóc cha mẹ chồng đã lớn tuổi có xác nhận của chính quyền địa phương nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Từ những phân tích trên đối chiếu quy định pháp luật xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo P, H, L và Đ1 để các bị cáo có thời gian cải tạo, sửa chữa bản thân để trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, góp phần răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Riêng bị cáo M có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình giảm nhẹ nêu trên, thuộc trường hợp người cao tuổi xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài liệu tạm giữ:
Đối với số tiền 6.850.000 đồng là tiền thu giữ liên quan hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 05 bộ bài tây, 01 tấm ny long màu xanh đen trắng là công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà là có cơ sở nên chấp nhận.
Đối với anh Hồ Văn N khi cơ quan chức năng bắt qua tang các bị cáo tham gia đánh bạc, anh N có mặt tại hiện trường nhưng không tham gia đánh bạc nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh N là phù hợp.
Đối với hành vi tổ chức đánh bạc tại nhà của bị cáo P chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Huỳnh Thị Trúc L và Đặng Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 08 (T2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (B1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Trúc L 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị M 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đặng Thị M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đặng Thị M có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Đặng Thị M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đặng Thị M cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đặng Thị M phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Đặng Thị M phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Đặng Thị M phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật Hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.850.000 đồng (Sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Tịch thu tiêu huỷ 05 bộ bài tây, 01 tấm nylong màu xanh đen trắng.
(Hiện các vật chứng trên do Chi cục THADS huyện C đang quản lý)
2. Về án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Huỳnh Thị Trúc L và Đặng Thị M mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thanh Trúc |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tội đánh bạc
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh Thị Trúc L và Đặng Thị M phạm tội “Đánh bạc”
