Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày: 18/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Ngọc Túy;
  2. Ông Đặng Ngọc Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Chu Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Trung T, sinh ngày 02/9/1982 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình

Nơi cư trú: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trung P (đã chết) và bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1954; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: không;

Tiền án: Bản án số 15/2008/HSST ngày 06/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 04 năm tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong án phạt tù ngày 12/02/2013, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và nghĩa vụ bồi thường trách nhiệm dân sự.

Nhân thân: Bản án số 125/2003/HSST ngày 05/12/2003 bị Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/6/2006, được miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm ngày 20/9/2013 (đã được xóa án tích). Bản án số 09/2008/HSST ngày 05/3/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 06/5/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử y án sơ thẩm. Ngày 21/8/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình quyết định tổng hợp hình phạt (số B) tổng hợp hình phạt của Bản án phúc thẩm số 24/2008/HSPT ngày 06/5/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án số 15/2008/HSST ngày 06/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 04 năm tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, thời gian T phải chấp hành án phạt tù là 07 năm tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 12/02/2013 và chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm; án phí hình sự phúc thẩm và khoản nộp ngân sách Nhà nước ngày 20/9/2008 và nghĩa vụ bồi thường trách nhiệm dân sự (đã được xóa án tích Bản án tội trộm cắp tài sản). Bản án số 51/2015/HSST ngày 20/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù ngày 09/8/2021, nộp án phí hình sự sơ thẩm tháng 11/2015 (đã được xóa án tích).

Bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 11/10/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

- Người làm chứng:

  • + Anh Trần Trung P1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
  • + Anh Bùi Quang T1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

- Người chứng kiến:

  • + Ông Nguyễn Viết T2, sinh năm 1972 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 04/10/2024, tại phòng ngủ nhà anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1984, ở thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Tổ công tác của Công an huyện Q phối hợp với Công an xã Q phát hiện bắt quả tang Trần Trung T, sinh năm 1982, cư trú tại thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình có hành vi cất giấu tại túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 túi ni lông trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ, bên trong lớp giấy bạc, lớp giấy màu hồng in mực màu đỏ chứa 0,2056 gam ma túy, loại Heroine. T khai nhận: gói ma túy trên T mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa cụ thể), tại khu vực Trường tiểu học, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình với giá 150.000 đồng, mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong gói ma tuý trên trước sự chứng kiến của người làm chứng anh Bùi Quang T1, sinh năm 1983, cư trú tại thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình và người chứng kiến ông Nguyễn Viết T2, sinh năm 1972, cư trú tại thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Trung T tại thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình không quản lý, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Cáo trạng số 12/CT-VKSQP ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Trần Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Trung T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Trung T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Trần Trung T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 22 giờ, 23 giờ 30 phút, 23 giờ 40 phút cùng ngày 04/10/2024 tại nhà của anh Nguyễn Viết C (bút lục số 01, 02; số 04, 05); Bản kết luận giám định số 1513/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2056 gam (bút lục số 09); Biên bản ghi lời khai người làm chứng anh Bùi Quang T1 (bút lục từ số 116 đến số 119); anh Trần Trung P1 (bút lục số 128); Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Viết C (bút lục từ số 120 đến số 123); Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến ông Nguyễn Viết T2 (bút lục từ số 124 đến số 127); Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 04/10/2024, tại phòng ngủ nhà anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1984, ở thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Trần Trung T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2056 gam ma túy, loại Heroin (H), mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
  • Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có ...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm hoạ của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng bị xử phạt tù về các tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã 4 lần bị xử phạt tù về các tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án nên bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Trần Trung T hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

[8] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo T khai 0,2056 gam ma túy, loại Heroin bị thu giữ ngày 04/10/2024 T mua của người đàn ông (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) tại khu vực Trường tiểu học xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Bị cáo Trần Trung T khai do nghiện ma túy nên sau khi mua được ma túy, T bỏ vào túi quần và đi đến nhà Nguyễn Viết C chơi. Lợi dụng lúc C không có ở nhà, T lấy một ít ma túy ra sử dụng, hình thức hít ma túy vào cơ thể. Kết quả xét nghiệm: T dương tính với ma túy (Heroine). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng đối với T là phù hợp.

Đối với Nguyễn Viết C: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành điều tra, xác minh, ghi lời khai của T, C, T1 và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C. Kết quả điều tra xác định: T đến nhà C chơi, C không hỏi và T cũng không nói, sau đó C mượn xe của T đi ra ngoài nên C không biết việc T có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình; Khám xét khẩn cấp chỗ ở của C không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q không xử lý gì đối với C là đúng quy định pháp luật.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Trung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Trung T 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 05/10/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,1647 gam (Không phẩy một nghìn sáu trăm bốn mươi bảy gam) Hêrôin hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì niêm phong số 1513/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T.

    (Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 30 ngày 13/01/2025 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Trung T phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Trung T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/02/2025). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ; VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Quỳnh Phụ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Trung T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger