TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 17 - 03 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Nam.
- Ông Nguyễn Quang Tố.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43B/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Cửu Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 13/9/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); số định danh cá nhân/CCCD: [...]; nơi thường trú: Số A đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Cửu L, sinh năm 1968 và bà: Hồ Thị Y, sinh năm: 1966; vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân: Sinh sống với gia đình tại số A đường T, phường A từ 2006 đến nay; học cấp II, cấp III tại Huế; tốt nghiệp Khoa Giáo dục thể chất thuộc Đại học H1 vào năm 2019 và lao động tự do cho đến ngày phạm tội.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Chí C và ông Nguyễn Cửu Đức B - Đều là Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số E đường P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; đều có mặt;
- - Bị hại: Nguyễn Văn B1, sinh năm 1996 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1971; là bố mẹ ruột của bị hại; địa chỉ: số A đường T, phường P, quận T, thành phố H; bà H có mặt; ông C1 vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Cửu L, sinh năm 1968 và bà Hồ Thị Y, sinh năm 1966; địa chỉ: Số A đường T, phường A, quận T, thành phố H; đều có mặt;
- - Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn A, xã H, thị xã H, thành phố H; có mặt;
- + Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1985; địa chỉ: Số E đường X, phường Đ, quận P, thành phố H; có mặt;
- + Bà Trương Thị Thu N, sinh năm 1971; địa chỉ: Số B đường X, phường Đ, quận P, thành phố H; vắng mặt;
- + Bà Tôn Nữ Thị L1, sinh năm 1954; địa chỉ: Số F đường X, phường Đ, quận P, thành phố H; vắng mặt;
- + Anh Hà Thúc V, sinh năm 1985; địa chỉ: Lô E, khu Đ phường G, quận T, thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 ngày 05/02/2024, Nguyễn Cửu Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 75F7-7551, từ đường giao nước đá về xưởng làm đá tại địa chỉ: Số E đường X, phường Đ, thành phố H đến đoạn đường trước nhà số : đường X, phường Đ, thành phố H thì Nguyễn Văn B1 (sinh năm 1996, trú tại số A đường T, phường P, thành phố H) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 75F2-06128 từ phía sau vượt lên xe của Q khiến Quốc suýt bị ngã nên Q đã điều khiển phương tiện đuổi theo B1. Đến vị trí trước nhà số: 61 đường X, phường Đ, Nguyễn Cửu Q nói với B1: “ông già mi chết à, răng chạy dữ rứa mi”. Lúc này, hai xe mô tô do B1 và Q điều khiển đã dừng lại. Nghe vậy, B1 chửi: “Đ... mạ thằng ni” rồi nhặt đá ở vỉa hè ném Q nhưng không trúng. B1 tiếp tục nhặt đá rượt đuổi Q, cả hai chạy bộ từ vị trí trước nhà số F đường X đến xưởng đá nơi Q làm việc (số E đường X) với khoảng cách từ 60m đến 80m, vừa rượt đuổi Q, B1 vừa chửi: “Đ... mạ mi”, “Đ... mạ mi tau giết mi chết”. Khi rượt đuổi Q vào trong sân xưởng làm đá, B1 cầm cục đá đánh vào đầu Q gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%, dùng tay đánh vào miệng Q gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Q liền rút cây dao (có lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 15 cm, cán vỏ gỗ màu nâu) để sẵn trong người, cầm dao bằng tay phải, áp sát đâm liên tiếp 03 (ba) nhát vào vùng ngực, bụng của B1.
Phát hiện sự việc, anh Nguyễn Đình Đ (sinh năm 2003, trú tại Thôn A, Xã H, thị xã H, thành phố H - là nhân viên xưởng làm đá) chạy đến kéo, giữ Q lại; anh Nguyễn Duy T (sinh năm 1985, trú tại số E đường X, phường Đ, thành phố H - chủ xưởng làm đá) chạy đến can ngăn, đưa B1 ra phía đường X.
Sau khi bị đâm, B1 bỏ chạy về phía nhà số F đường X, phường Đ, thành phố H, tại đây B1 nói với Hà Thúc V (sinh năm 1985, cư trú tại: Lô E khu Đ, thành phố H - bạn của B1): “Hắn đâm em rồi anh” và kéo áo lên cho V xem vết thương. Thấy vậy, V nhờ người đi đường cùng V chở B1 đi Bệnh viện, tuy nhiên B1 đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu.
Sau khi gây án xong, Q lấy tiền vừa giao nước đá đưa lại cho Đ, cất dao vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 75F2-11636 rời khỏi xưởng đá, mang cây dao gây án ném xuống sông N (đoạn qua cầu Đ, thuộc phường A, thành phố H) và quay về nhà tại: Số A đường T, phường A, thành phố H thì bị phát hiện, bắt giữ.
Tại Bản kết luận giám định số: 83/KLGĐTT-KTHS ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, giám định pháp y tử thi của Nguyễn Văn B1, kết luận:
- “1. Các kết quả chính:
- Tử thi nam giới, thể trạng gầy, lạnh, đang trong quá trình cứng, hoen tử thi mờ tập trung mặt sau cơ thể. Da, niêm mạc toàn thân nhợt nhạt.
- Da, tổ chức dưới da và cơ vùng đầu, xương sọ không tổn thương.
- Vết thương V1 vùng ngực phải có dạng hình khe, kích thước (1,5x0,7)cm, bờ mép hai bên sắc gọn, rìa bầm tụ máu; có một đầu tù phía bên phải, bờ trên vết thương sát đầu tù có vết rách da phụ; một đầu nhọn phía bên trái, bờ dưới vết thương phía đầu nhọn có vết cắt phụ. Gây thủng, tụ máu dưới da và cơ vùng ngực phải, thủng sụn sườn 4, thủng mép ngoài thùy giữa phổi phải, thủng bao màng ngoài tim, thùng mặt trước tâm thất phải, đi vào buồng tim, qua van 3 lá, kết thúc tại thành sau nhĩ - thất phải là vết rách cơ tim có kích thước (0,5x0,2)cm.
- Vết thương V2 vùng ngực trái có dạng hình khe kích thước (1,3x0,8)cm; bờ mép hai bên sắc gọn, rìa bầm tụ máu; có một đầu tù phía bên phải, bờ dưới vết thương sát đầu tù có vết rách da phụ; một đầu nhọn phía bên trái, bờ trên vết thương sát đầu nhọn có vết cắt phụ. Gây thủng, tụ máu dưới da và cơ vùng ngực trái, sượt qua sụn sườn 6, thủng khoang gian sườn 5 và đi vào ổ bụng.
- Vết thương V3 vùng thượng vị bên trái có dạng hình khe kích thước (1,5x0,5)cm; bờ mép hai bên sắc gọn; có một đầu tù bên trên, một đầu nhọn bên dưới. Gây thủng, tụ máu dưới da và cơ vùng thượng vị trái, thủng thùy trái gan, xuyên qua nhu mô gan và kết thúc tại cuống gan. Bề mặt gan nhợt nhạt.
- Tràn khí trung thất. Hố ngực phải và bao tim chứa đầy máu lỏng lẫn cục máu đông. Hai phổi căng, nhợt nhạt, diện cắt qua nhu mô phổi xốp, có dịch màu hồng chảy ra.
- Ô bụng có nhiều máu lỏng lẫn cục máu đông.
- Dạ dày chứa thức ăn chưa nhuyễn dạng hạt ngô.
- Các tạng còn lại trong ổ bụng không tổn thương.
- 2. Kết luận nguyên nhân chết: Mất máu cấp do vết thương thấu ngực gây thủng tim.
- 3. Cơ chế hình thành dấu vết:
- Các vết thương vùng ngực bụng (V1, V2, V3) do tác động bởi vật sắc nhọn, bản dẹt, một cạnh sắc, một cạnh có tù.
- Vết V1 có chiều từ trước ra sau, từ phải qua trái, từ dưới lên trên.
- Vết V2 có chiều từ trước ra sau, từ trên xuống dưới.
- Vết V3 có chiều từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, trái sang phải.
- 4. Thời gian chết:
- Sau bữa ăn cuối cùng khoảng từ 0 đến 03 giờ.
- Khoảng 02 đến 04 giờ kể từ thời điểm khám nghiệm.”
Tại Bản kết luận giám định số: 354/KL-KTHS ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng - V1 - Bộ C3 về giám định chất ma túy trong máu, kết luận: “Trong mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn B1 gửi giám định có tìm thấy các sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroin (Morphine, C2 và 6-MAM)”.
Tại Bản kết luận giám định số: 85/KL-KTHS ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh T về dấu vết máu, kết luận:
- “V.1/ Trên 03 (ba) cục đá vỡ ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 1 (ký hiệu M1) gửi giám định đều không dính máu.
- V.2/ Trên 02 (hai) cục đá vỡ ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 2 (ký hiệu M2) gửi giám định đều không dính máu.
- V.3/ Dấu vết màu nâu đó ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 3 (ký hiệu M3) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- V.4/ Dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 4 (ký hiệu M4) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- V.5/ Dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 5 (ký hiệu M) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- V.6/ Dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 6 (ký hiệu M6) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- V.7/ Trên đôi dép cao su màu vàng - đen ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 7 (ký hiệu M7) gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- V.8/ Dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 8 (ký hiệu M8) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- V.9/ Mẫu máu lỏng ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1, sinh năm: 1996, trú tại: 1 T, P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình khám nghiệm tử thi (ký hiệu N) gửi giám định thuộc nhóm O.”
Tại Bản kết luận giám định số: 86/KL-KTHS ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T về giám định dấu vết máu, kết luận:
- “V.1/ Trên áo khoác dài tay, có mũ, màu xanh ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1 (ký hiệu M1) gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- V.2/ Trên áo khoác dài tay, có cổ, màu xanh, phía trước và phía sau áo có dòng chữ “UNICAR Không ngại gần xa” ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1 (ký hiệu M2) gửi giám định có dính máu người, nhóm Q.
- V.3/ Trên áo Pull dài tay, cổ tròn, màu đen (đã bị cắt rách) ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1 (ký hiệu M3) gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- V.4/ Trên áo Pull ngắn tay, cổ tròn, màu xanh (đã bị cắt rách) ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1 (ký hiệu M4) gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- V.5/ Trên quần dài màu đen, hai bên có sọc màu xanh, phía trước túi quần bên trái có dòng chữ "LI-NING" ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1 (ký hiệu M5) gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- V.6/ Trên quần dài màu xanh hai bên có sọc màu trắng, phía trước bên phải có chữ "JUVENTUS" ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1 (ký hiệu M6) gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- V.7/ Trên quần đùi màu đen hai bên có sọc màu trắng ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1 (ký hiệu M7) gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- V.8/ Trên áo khoác có mũ, màu đen, trên ngực áo trái có dòng chữ “GERRY” ghi thu của đối tượng Nguyễn Cửu Q (ký hiệu M8) gửi giám định không dính máu.
- V.9/ Trên áo pull cổ tròn, màu xám - đỏ, trên ngực áo có dòng chữ “MARINE NATIONALE” ghi thu của đối tượng Nguyễn Cửu Q (ký hiệu M9) gửi giám định không dính máu.
- V.10/ Trên quần dài màu đen, phía trước túi quần bên phải có dòng chữ “NIKE” ghi thu của đối tượng Nguyễn Cửu Q (ký hiệu M10) gửi giám định không dính máu.
- V.11/ Mẫu máu lỏng ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn B1, sinh năm: 1996, trú tại: 1 T, P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình khám nghiệm tử thi (ký hiệu N) gửi giám định thuộc nhóm O.”
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 207-24/KLTTCT-GĐPY ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Trung tâm G, giám định tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Cửu Q, kết luận:
- “1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
- + Vết sẹo nhỏ chẩm trái không ảnh hưởng chức năng. 1%.
- + Vết sẹo nhỏ môi trên phải không ảnh hưởng chức năng. 1%.
- 2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Cửu Q tại thời điểm giám định là: 2% (hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây, cơ chế hình thành thương tích:
- + Vết thương môi trên phải do vật tày tác động theo hướng trước sau.
- + Vết thương chẩm trái do vật tày có cạnh tác động từ trái sang phải.”
Tại Bản kết luận giám định số: 197/KL-KTHS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- “1. Tệp video có tên “5222488783902.mp4", dung lượng 72,9MB, thời lượng 07 phút 01,44 giây, mã MD5: 719A265B 577C06C2-B4752EEE - 3EED4C25 được lưu trong đĩa DVD không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
- 2. Làm được 31 (ba mươi mốt) ảnh tại các thời điểm (nêu tại phần II) trên tệp video trong đĩa DVD theo yêu cầu. Chi tiết thể hiện ở Phụ lục ảnh kèm theo".
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 03 (ba) cục đá vỡ thu tại hiện trường ở vị trí 01;
- - 02 (hai) cục đá vỡ thu tại hiện trường ở vị trí số 02;
- - 01 (một) đôi dép cao su màu vàng - đen;
- - 01 (một) áo khoác có mũ, màu đen;
- - 01 (một) áo pull cổ tròn, màu xám - đỏ;
- - 01 (một) quần dài màu đen thu của Nguyễn Cửu Q;
- - 01 (một) quần đùi màu đen hai bên có sọc màu trắng, 01 (một) áo Pull ngắn tay, cổ tròn, màu xanh, 01 (một) quần dài màu xanh hai bên có sọc màu trắng, 01 (một) áo khoác dài tay, có cổ, màu xanh, 01 (một) áo khoác dài tay, có mũ, màu xanh, 01 (một) quần dài màu đen, hai bên có sọc màu xanh; 01 (một) áo Pull dài tay, cổ tròn, màu đen thu của Nguyễn Văn B1;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng, thu của Nguyễn Cửu Q.
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị cáo Nguyễn Cửu Q đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Văn B1 tổng cộng số tiền là 95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng). Sau đó, đại diện bị hại có yêu cầu Nguyễn Cửu Q bồi thường thêm đầy đủ số tiền 50.000.000 đồng; tổng cộng 145.000.000 đồng và gia đình bị hại đã có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Cửu Q.
Tại bản Cáo trạng số: 73/CT-VKS-P2 ngày 16/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế) đã truy tố bị cáo Nguyễn Cửu Q về tội: “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung trong bản Cáo trạng; quá trình điều tra, truy tố đã căn cứ đầy đủ về nguyên nhân, xác định mức độ lỗi của bị hại để xem xét áp dụng và truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự nên không chấp nhận quan điểm của luật sư về việc đề nghị áp dụng điểm e, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, áp dụng án lệ số 28/AL ngày 22/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để chuyển tội danh và truy tố bị cáo theo Điều 125 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát xin rút quan điểm tại nội dung cáo trạng về đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “đại diện hợp pháp xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cửu Q phạm tội: “Giết người”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cửu Q từ 10 đến 11 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện bồi thường đầy đủ, không ai có yêu cầu gì nên không đặt ra việc giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Cửu Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận các luật sư cho rằng: Nguyên nhân dẫn đến vụ án do bị hại đã có lời nói, hành vi rượt đuổi, dùng tay đấm, dùng đá gây thương tích cho bị cáo, dẫn đến bị cáo bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của bị hại nên bị cáo đã dùng dao để chống trả dẫn đến bị hại chết.
Hành vi của bị hại là quyết liệt làm cho bị cáo bị tê liệt ý chí, không thể chống đỡ, trong tình trạng không thể đủ thời gian để nhận thức được hành vi và hậu quả do mình gây ra. Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình lao động, học tập được cơ quan có thẩm quyền tặng nhiều giấy khen. Từ những căn cứ về diễn biến của vụ án và những tình tiết nêu trên, kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết được qui định tại điểm e, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét chuyển tội danh cho bị cáo; và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, án lệ số 28/AL ngày 22/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để truy tố bị cáo theo Điều 125 của Bộ luật hình sự là có căn cứ; và xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo được sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
Đại diện hợp pháp của bị hại không nhất trí ý kiến bào chữa của các luật sư đã xác định lỗi của bị hại; đề nghị Hội đồng xem xét để xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không có ý kiến gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Cửu Q nhất trí với lời bào chữa của các luật sư cho bị cáo, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội và hậu quả vụ án do bị cáo đã gây ra, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và mọi người, xin Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
- “1. Các kết quả chính:
- Tử thi nam giới, thể trạng gầy, lạnh, đang trong quá trình cứng, hoen tử thi mờ tập trung mặt sau cơ thể. Da, niêm mạc toàn thân nhợt nhạt.
- 2. Kết luận nguyên nhân chết: Mất máu cấp do vết thương thấu ngực gây thủng tim.
- [3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
- [4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào;
- [4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại; bị cáo và đại diện gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường đầy đủ, không ai có yêu cầu gì nên không đặt ra việc giải quyết.
- [6]. Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần:
- - Tịch thu tiêu hủy đối với các loại vật chứng, gồm:
- + 03 (ba) cục đá vỡ thu tại hiện trường ở vị trí 01;
- + 02 (hai) cục đá vỡ thu tại hiện trường ở vị trí số 02;
- + 01 (một) đôi dép cao su màu vàng - đen;
- + 01 (một) áo khoác có mũ, màu đen;
- + 01 (một) áo pull cổ tròn, màu xám - đỏ;
- + 01 (một) quần dài màu đen thu của Nguyễn Cửu Q;
- + 01 (một) quần đùi màu đen hai bên có sọc màu trắng, 01 (một) áo Pull ngắn tay, cổ tròn, màu xanh, 01 (một) quần dài màu xanh hai bên có sọc màu trắng, 01 (một) áo khoác dài tay, có cổ, màu xanh, 01 (một) áo khoác dài tay, có mũ, màu xanh, 01 (một) quần dài màu đen, hai bên có sọc màu xanh; 01 (một) áo Pull dài tay, cổ tròn, màu đen thu của Nguyễn Văn B1; đã niêm phong, hiện không có giá trị.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Cửu Q 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng.
- [7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Cửu Q phải chịu số tiền là: 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 08 giờ ngày 05/02/2024, tại địa chỉ số E đường X, phường Đ, thành phố H, do B1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 75F2-06128 từ phía sau vượt lên xe của Q khiến Quốc suýt bị ngã nên Q đã điều khiển phương tiện đuổi theo B1. Đến vị trí trước nhà số F đường X, phường Đ; lúc này, hai xe mô tô do B1 và Q điều khiển đã dừng lại, Nguyễn Cửu Q nói với B1: “ông già mi chết à, răng chạy dữ rứa mi”. Nghe vậy, B1 chửi: “Đ... mạ thằng ni” rồi nhặt đá ở vỉa hè ném Q nhưng không trúng, B1 tiếp tục nhặt đá rượt đuổi Q, cả hai chạy bộ từ vị trí trước nhà số F đường X đến xưởng đá nơi Q làm việc tại số E đường X với khoảng cách từ 60m đến 80m. Vừa rượt đuổi Q, B1 vừa chửi: “Đ... mạ mi”, “Đ... mạ mi tau giết mi chết”; khi rượt đuổi Q vào trong sân xưởng làm đá, B1 cầm cục đá đánh vào đầu Q gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%, dùng tay đánh vào miệng Q gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Lúc này, Q liền rút cây dao có lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 15cm, cán vỏ gỗ màu nâu có sẵn trong người, rồi cầm dao bằng tay phải, áp sát đâm liên tiếp ba nhát vào vùng ngực, bụng của B1. Khi phát hiện sự việc, anh Nguyễn Đình Đ là nhân viên xưởng làm đá chạy đến kéo, giữ Q lại; anh Nguyễn Duy T là chủ xưởng làm đá chạy đến can ngăn, đưa B1 ra phía đường X.
Sau khi bị đâm, B1 chạy về phía nhà số F đường X, phường Đ, thành phố H, tại đây B1 gặp bạn là Hà Thúc V và nói với V: “Hắn đâm em rồi anh” và kéo áo lên cho V xem vết thương. Thấy vậy, V nhờ người đi đường cùng V chở B1 đi Bệnh viện, nhưng B1 đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu; còn Q sau khi gây án xong lấy tiền vừa giao nước đá đưa lại cho Đ, cất dao vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 75F2-11636 rời khỏi xưởng đá, mang cây dao gây án ném xuống sông N rồi về nhà số A đường T, phường A, thành phố H, sau đó bị bắt giữ.
Tại Bản kết luận giám định số: 83/KLGĐTT-KTHS ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, giám định pháp y tử thi của Nguyễn Văn B1, kết luận:
thủng tim.
Qua tranh tụng làm rõ tại phiên tòa, xét thấy căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Cửu Q; mức độ lỗi của bị hại; nguyên nhân và hậu quả vụ án; nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã truy tố bị cáo Nguyễn Cửu Q về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Cửu Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi dùng dao sắc nhọn là loại hung khí nguy hiểm để xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác là hành vi nguy hiểm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo đã bất chấp. Chỉ vì duyên cớ nhỏ nhặt của bị hại khi tham gia giao thông đã có hành vi vượt xe qua mặt mình, bị cáo đã thiếu kiềm chế để dùng lời lẽ xúc phạm một cách thiếu văn hóa với bị hại; do bức xúc dẫn đến bị hại đã tức khắc có hành vi chửi lại bị cáo, dùng đá ném, rượt đuổi bị cáo nhằm thỏa mãn sự bực tức của mình, gây thương tích cho bị cáo có tỉ lệ thương tật 2%.
Qua tranh luận tại phiên tòa, lời bào chữa cho bị cáo của luật sư, cho rằng hành vi của bị hại như nội dung cáo trạng đã làm cho bị cáo tê liệt ý chí; trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, bị cáo không còn khả năng để nhận thức đầy đủ hành vi của mình dẫn đến phạm tội, việc truy tố đối với bị cáo là đúng người nhưng đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết “phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh”; áp dụng án lệ số 28/AL ngày 22/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để chuyển tội danh xét xử bị cáo theo quy định tại Điều 125 của Bộ luật hình sự có mức hình phạt cao nhất 07 năm tù là có căn cứ; phù hợp quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù bị hại có một phần lỗi và gây tỷ lệ thương tích cho bị cáo 2%, mức độ vi phạm và hậu quả của hành vi do bị hại gây ra chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự; giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, thù hằn gì nhưng bị cáo đã dùng dao là loại hung khí nguy hiểm đâm liên tục ba nhát vào vùng ngực, bụng là nơi trọng yếu của cơ thể con người, dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng, dẫn đến bị hại tử vong ngay sau đó.
Với tính chất, mức độ, thái độ và hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, thấy rằng chưa đủ căn cứ để xem xét mức độ lỗi của bị hại đến mức làm cho bị cáo bị mất kiểm soát trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như nội dung án lệ số 28/2019/AL ngày 22/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn.
Đại diện Viện kiểm sát đã tranh luận, nhận định đánh giá, xem xét đầy đủ về mức độ lỗi của bị hại, đối với hành vi phạm tội của bị cáo; giữ nguyên nội dung cáo trạng, truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm rất nghiêm trọng đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần thiết khi lượng hình phải áp dụng mức hình phạt tương xứng để xử phạt, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian; nghiêm khắc răn đe giáo dục đối với bị cáo; góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, các quy tắc, thái độ ứng xử, văn hóa đạo đức của cuộc sống nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã cùng gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong quá trình học tập, bị cáo đã được cơ quan có thẩm quyền tặng thưởng nhiều giấy khen, mẹ ruột của bị cáo được tặng thưởng “Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục” nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên cần chấp nhận quan điểm thay đổi của đại diện Viện kiểm sát xin rút tình tiết này tại nội dung cáo trạng là có căn cứ.
Luật sư bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e, i khoản 1 Điều 51, điều 54 của Bộ luật hình sự, thấy rằng: Quá trình điều tra bị cáo đã được xem xét, đánh giá đầy đủ và đã được áp dụng điểm e khoản 1 Điều 51 để điều tra, truy tố và xét xử theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự; bị cáo bị truy tố tội danh có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 của Bộ luật hình sự; thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng nên không đủ điều kiện áp dụng, không có căn cứ xem xét chấp nhận như lời bào chữa của luật sư để áp dụng cho bị cáo.
Cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo đủ điều kiện được hưởng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật; tạo cơ hội cho bị cáo học tập, cải tạo tốt sớm đoàn tụ với gia đình và hòa nhập xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên xử:
- [1].Về tội danh:
- [2]. Về hình phạt:
- [3]. Về xử lý vật chứng:
- [3.1]. Tịch thu tiêu hủy, gồm:
- [3.2]. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Cửu Q 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng.
- [4]. Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- [5]. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cửu Q phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cửu Q 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/02/2024.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
03 (ba) cục đá vỡ thu tại hiện trường ở vị trí 01; 02 (hai) cục đá vỡ thu tại hiện trường ở vị trí số 02; 01 (một) đôi dép cao su màu vàng - đen; 01 (một) áo khoác có mũ, màu đen; 01 (một) áo pull cổ tròn, màu xám - đỏ; 01 (một) quần dài màu đen thu của Nguyễn Cửu Q; 01 (một) quần đùi màu đen hai bên có sọc màu trắng, 01 (một) áo Pull ngắn tay, cổ tròn, màu xanh, 01 (một) quần dài màu xanh hai bên có sọc màu trắng, 01 (một) áo khoác dài tay, có cố, màu xanh, 01 (một) áo khoác dài tay, có mũ, màu xanh, 01 (một) quần dài màu đen, hai bên có sọc màu xanh; 01 (một) áo Pull dài tay, cổ tròn, màu đen thu của Nguyễn Văn B1; đã niêm phong, hiện không có giá trị.
Các vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 06 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
Buộc bị cáo Nguyễn Cửu Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Thanh |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự (giết người)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Cửu Q phạm tội Giết người
