Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2025/HS-ST

Ngày: 14-3-2025

-----

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Xuân Hương và bà Cái Diệu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Công Q; tên gọi khác: Bốn; sinh ngày 02/9/1999, tại thành phố H; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, thành phố Huế; nghề nghiệp: Không có; số căn cước công dân: [...]ABC; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công Q1 (P) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/01/2025 cho đến nay; có mặt.- Bị hại: Bà Trần Thị N, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, thành phố Huế; vắng mặt.- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Phước Đình H, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế. Ông Lê Văn M, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế

.- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Dương Bảo Q2 và ông Phạm Hữu T; đều là cán bộ Phân trại tạm giam khu vực P thuộc Công an thành phố Huế.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 18/8/2024, Phạm Công Q đi bộ ngang nhà thờ họ Trần tại tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, thành phố Huế thì nhìn thấy cửa nhà thờ không khóa, bên trong nhà có bà Trần Thị N (sinh năm 1969; trú tại tổ dân phố H, thị trấn L, huyện P) đang nằm ngủ. Q leo qua hàng rào, đi vào nhà rồi lục tìm trong túi áo khoác của bà N để trên sàn nhà, lén lút lấy trộm 01 bì ni lông, bên trong có số tiền 2.463.000 đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng) và 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Trần Thị N. Sau đó, Q cất số tiền chiếm đoạt được trong túi quần của mình rồi đi về và lẩn trốn; riêng thẻ Căn cước công dân của bà N, Q vứt lại trên tấm đoanh ngôi nhà do ông Nguyễn Văn K (trú tại tổ dân phố A, thị trấn L) quản lý. Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Phạm Công Q số tiền 2.463.000 đồng tiền Ngân hàng N1 gồm: 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với Căn cước công dân mang tên Trần Thị N, sau khi mở rộng kiểm tra hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ, chụp lại ảnh căn cước để lưu hồ sơ, sau đó trao trả lại cho bà N căn cước này.

Đối với số tiền 2.463.000 đồng, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị N. Bà N không yêu cầu bồi thường gì và đề nghị xử lý Q theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, do có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của Phạm Công Q, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định tình trạng tâm thần, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1990/KLGĐ ngày 04/11/2024 của Trung tâm P kết luận về tình trạng tâm thần của Phạm Công Q như sau:

Trước thời điểm gây án:

  • Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Sức khỏe tâm thần bình thường.
  • Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Tại thời điểm gây án:

  • Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Sức khỏe tâm thần bình thường.
  • Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Thời điểm hiện tại:

  • Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Sức khỏe tâm thần bình thường.
  • Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-PL ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, thành phố Huế truy tố bị cáo Phạm Công Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát xác định hành vi phạm tội của bị cáo Q đúng như bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-PL ngày 20/01/2025 đã truy tố. Tuy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng trong thời gian được tại ngoại, bị cáo đã vi phạm nghĩa vụ cam đoan, không ăn năn hối cải, có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian ngắn. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Công Q từ 03 (ba) đến 04 (bốn) tháng tù. Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng; bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
  2. [2] Bị cáo Phạm Công Q đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 18/8/2024, tại nhà thờ họ T1 ở tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, thành phố Huế; Phạm Công Q đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt của bà Trần Thị N số tiền 2.463.000 đồng. Với hành vi như trên, bị cáo Phạm Công Q đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-PL ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật.
  3. [3] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  4. [4] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng: Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chưa lần nào bị kết án hoặc vi phạm pháp luật.
  6. [6] Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1990/KLGĐ ngày 04/11/2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền Trung. Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Qua nội dung xác minh của Công an thị trấn L tại khu vực cư trú của bị cáo, cũng như gia đình bị cáo thể hiện: bị cáo không có việc làm ổn định, sống phụ thuộc vào mẹ, bố đi làm ăn xa, thường mang hung khí ra ngoài đường, thường xuyên trộm cắp vặt, không nghe lời khuyên can của người khác.

    Ngoài ra, sau khi kết thúc điều tra, trong quá trình bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” thì bị cáo lại vi phạm nghĩa vụ cam đoan và thực hiện hành vi làm hư hỏng tài sản người khác. Công an thị trấn L, huyện P đã đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc thay đổi biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” đối với bị cáo. Do đó cần xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, tuyên phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét do bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

  7. [7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  8. [8] Về xử lý vật chứng: Đối với Căn cước công dân mang tên Trần Thị N và số tiền 2.463.000 đồng, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị N. Tại phiên tòa, bà N không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. [9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trần Thị N không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Công Q, tên gọi khác: B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về trách nhiệm hình sự:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt Bị cáo Phạm Công Q 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 17/01/2025).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Công Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 CA thành phố Huế;
  • - Sở Tư pháp thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Lộc;
  • - CQĐT CA thành phố Huế;
  • - CQ THAHS CA thành phố Huế;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Phú Lộc, Phòng PC11, CA thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lộc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký và đóng dấu)

Trần Ngọc Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger