Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – BẮC NINH

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 11 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Thế Việt và ông Nguyễn Hữu Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Quang Thiên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 02/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 16/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 29/10/2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn T, sinh năm 1990, tại Khánh Hòa

Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường H, tỉnh Khánh Hòa (Trước đây là: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T1, sinh năm 1962 và bà Trần Thị L, sinh năm 1964; Có vợ là Trương Thị Kim H, sinh năm 1996 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B – Phân trại tạm giam Thuận T2 (Có mặt tại phiên tòa).

2. Đào Xuân T3, sinh năm 1993, tại Bắc Ninh

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh (Trước đây là: Khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Xuân T4, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1966; có vợ là: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1993 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2023

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên tòa).

1

3. Nguyễn Như T6, sinh năm 1989, tại Ninh Bình

Nơi cư trú: Thôn B, xã P, tỉnh Ninh Bình (Trước đây là: Thôn B, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V, đã chết và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; có vợ là: Nhữ Thị H1, sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B – Phân trại tạm giam Thuận T2 (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Đức P, sinh năm 1991, địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Chị Vũ Thị X, sinh năm 1971, nơi đăng ký thường trú: Số C, ngõ F đường H, phường P, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Tổ H, ngõ B, đường Â, phường H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 28/5/2025, tại phòng trọ của Nguyễn Như T6, Trần Văn T và Phạm Thành Đ1 tại khu phố T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (Nay là Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh) thuê của bà Nguyễn Thị H2. Tổ công tác Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Như T6, Trần Văn T, Đào Xuân T3 đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Đức P.

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ trên mặt sàn phòng trọ gồm: 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 01 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai có gắn một ống hút nhựa màu trắng và một cóong thủy tinh màu trắng, bên trong cóong có chứa chất bám dính màu đen; 01 bật lửa gas màu đỏ của T6;

Thu giữ trên giường ngủ của Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 NFC màu xanh lắp sim số 0843.197.424; Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Đào Xuân T3 01 bật lửa gas màu đỏ; Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Như T6 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K màu xanh lắp 02 sim số 0333.414.444 và số 0335.324.234; Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Đào Xuân T3 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A16 5G màu xanh lắp sim số 0987.734.593.

Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Như T6 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn xanh, Biển kiểm soát 79D1-144.44; Số máy đã bị tẩy xóa; Số khung: ZDCKF08A06F064420.

2

Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra nước tiểu của Trần Văn T, Nguyễn Như T6, Đào Xuân T3, Nguyễn Đức P và Phạm Thành Đ1 kết quả: mẫu nước tiểu của T, T6, T3, P dương tính với ma túy Methamphetamine còn mẫu nước tiểu của Đ1 âm tính với ma túy.

Kiểm tra nhật ký 03 chiếc điện thoại thu giữ của Trần Văn T, Đào Xuân T3 và Nguyễn Như T6. Kết quả xác định điện thoại của Nguyễn Như T6 không có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội. Điện thoại của Trần Văn T và Đào Xuân T3 có nội dung liên quan đến việc liên lạc mua bán ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở (phòng trọ) của Nguyễn Như T6 và Trần Văn T. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định số 1152/KL-KTHS ngày 30/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,1651 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine;

+ 01 (một) viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,0975 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine;

+ Chất màu đen bám dính bên trong Cóong thuỷ tinh màu trắng (bên trong 01 (một) túi ni lông màu trắng) gửi giám định là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamie; Không xác định được khối lượng.

Tổng khối lượng ma túy là 0,2626 gam Methamphetamine.

Methamphetamie là chất ma tuý được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Các bị cáo khai nhận nguồn gốc số ma túy bị thu giữ và việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau:

Nguyễn Như T6, Trần Văn T và Đào Xuân T3 cùng làm tại công trường xây dựng công ty J thuộc khu công nghiệp T, tỉnh Bắc Ninh. Do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp nên khoảng 18 giờ 00 ngày 28/5/2025, T nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho Đào Xuân T3 rủ T3 cùng sử dụng ma túy. T3 đồng ý, do T không có tiền nên T3 bảo T cứ gọi ma túy, hết bao nhiêu tiền thì T3 đưa. Sau đó, T sử dụng điện thoại gọi điện vào số điện thoại 0332.290.xxx và hỏi mua 500 nghìn ma túy, người thanh niên đồng ý và hẹn T khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày sẽ mang ma túy đến đầu đường một chiều có dải phân cách cứng từ Quốc lộ C rẽ vào khu công nghiệp T I. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T3 một mình đi đến phòng trọ của T6 và T để sử dụng ma túy. Tại đây, T3 gặp T6, Đ1 đang ở trong phòng, cả 03 ngồi chơi đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, T3 không thấy T thông tin lại nên T3 đã nhắn tin qua Z cho T là có ma túy chưa thì T nhắn tin cho T3 số điện thoại của nam thanh niên bán ma túy và bảo T3 liên hệ để lấy ma túy. Thạo sử dụng điện thoại di dộng nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A16 5G màu xanh lắp sim số

3

0987.734.593 của T3 gọi vào số máy của nam thanh niên bán ma túy và hỏi đến chưa thì người thanh niên bảo là chờ một lúc, T3 bảo người thanh niên mang cho T 700.000 đồng tiền ma túy, T3 sẽ trả thêm 300.000 đồng tiền công. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi làm về thì thấy nam thanh niên nháy máy đến số điện thoại của T3. Lúc này, T3 nói với T là người bán ma túy đến rồi và đưa cho T 1.000.000 đồng và bảo T đi lấy ma túy. T đi bộ ra đầu đường một chiều có dải phân cách cứng từ Quốc lộ C rẽ vào khu công nghiệp T thì thấy có một nam thanh niên đang đỗ xe mô tô cạnh đường giơ tay vẫy T, T lại gần đưa cho nam thanh niên 1.000.000 đồng, nam thanh niên cầm tiền và bảo T đi ra gốc cây cách đó khoảng 5 - 7 mét để lấy ma túy, T đi ra gốc cây thì thấy có 01 khẩu trang màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy, T cầm và đi bộ về phòng trọ còn nam thanh niên đi đâu T không rõ.

Khi về đến phòng trọ, T đưa túi nilon chứa ma túy cho T3, T3 mở ra thì thấy bên trong có 02 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng. Sau đó T3 lấy từ trong gầm giường ra một chai nhựa màu trắng trên nắp chai có gắn 01 cóong bằng thủy tinh màu trắng và 01 ống hút màu trắng là dụng cụ sử dụng ma túy của T để trước mặt rồi cho 01 phần chất tinh thể màu trắng cùng 01 viên nén màu hồng vào cóong thủy tinh. T6 dùng 01 bật lửa ga màu đỏ của T6 đốt phía dưới cóong nhưng không sử dụng được nên T3 dùng bật lửa của T3 đốt cho ma túy tan chảy để T6 sử dụng ma túy. Thạo tiếp tục sử dụng 02 chiếc bật lửa ga màu đỏ của T6 và T3 đốt dưới cóong thủy tinh cho ma túy tan chảy để T6 sử dụng. T6 sử dụng ma túy xong T3 tiếp tục sử dụng 02 chiếc bật lửa trên đốt nóng dưới cóong thủy tinh cho T sử dụng ma túy. T sử dụng ma túy xong, T3 tự dùng bật lửa đốt nóng dưới cóong thủy tinh để bản thân sử dụng ma túy. Trong lúc T, T6 và T3 đang sử dụng ma túy thì có Nguyễn Đức P là bạn của T3 đến chơi, biết P là người sử dụng ma túy nên T3 mời P sử dụng ma túy, P đồng ý. Thạo dùng 01 bật lửa ga đốt nóng dưới cóong thủy tinh cho ma túy tan chảy để P sử dụng. Quá trình T3, T6, T và P sử dụng ma túy, Phạm Thành Đ1 không có mặt trong phòng và không tham gia sử dụng ma túy. Đến 22 giờ 15 phút cùng ngày thì Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 47/CTr-VKS-TT ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố các bị cáo Trần Văn T, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng. Các bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo T thừa nhận đã rủ bị cáo T3 sử dụng ma túy; cùng bị cáo T3 mua ma túy và đồng ý cho các bị cáo khác và P sử dụng địa điểm do bị cáo quản lý để sử dụng ma túy; bị cáo T3 thừa nhận việc cùng với bị cáo T mua ma túy, bị cáo là người bỏ tiền ra để mua ma túy, cùng bị cáo T liên lạc để mua ma túy, quá trình sử dụng ma túy bị cáo cũng là người lấy dụng cụ sử dụng ma túy, đổ ma túy và đốt cho ma túy tan chảy để các bị cáo và P sử dụng ma túy; bị cáo T6 thừa nhận

4

việc đồng ý cho các bị cáo khác và P sử dụng ma túy tại địa điểm do bị cáo quản lý; Các bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ và xác định nếu không bị bắt, các bị cáo và P sẽ cùng nhau sử dụng hết toàn bộ số ma túy đó; thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức P trình bày: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/5/2025, anh có đi đến phòng trọ của Nguyễn Như T6, tại phòng trọ của T6, khi đến phòng trọ thấy có T, T3 đang ngồi bên góc nhà, còn T6 và Đ1 ngồi trong phòng gần cửa ra vào. Anh đi lại gần vị trí T và T3 đang ngồi sàn nhà; T3 đã sử dụng một bật lửa ga màu đỏ đốt cóong cho anh sử dụng ma túy. Sau đó, anh thấy Công an ập vào bắt quả tang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị X trình bày: Khoảng tháng 6 năm 2006, chị có mua 01 chiếc xe mô tô SH màu đỏ, có có số máy KF08E0045155KTGE1, số khung 2DCKF08A06F064420, đã được cấp biển kiểm soát: 29V1 – 7919. Đến tháng 10/2017, chị bị mất chiếc xe trên nhưng chị chưa đến cơ quan Công an để trình báo. Chị xác định chiếc xe mà bị cơ quan điều tra Công an tỉnh B thu giữ trong vụ án này có số khung đúng với số khung xe của chị; số máy bị tẩy xóa nên chị không dám khẳng định có phải của chị không còn biển số xe không phải của chị; chị sẽ đến Công an phường H để làm thủ tục trình báo mất xe theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, điều 38, điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Trần Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025.

Xử phạt: Đào Xuân T3 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025.

Xử phạt: Nguyễn Như T6 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Văn T, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 Túi niêm phong ký hiệu PS2, bên ngoài túi có ghi kính gửi cơ quan CSĐT-CAT Bắc Ninh. Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 28/5/2025 tại N, T, Bắc Ninh; 02

5

bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 sim số thuê bao: 0843.197.424; 01 sim số thuê bao: 0987.734.593.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco X3 NFC, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A16 5G màu xanh.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Như T6: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17K, màu xanh, kiểu máy CPH2471, có kèm theo hai sim số 0333.414.444 và 0335.324.234 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo Trần Văn T, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi nghe bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức P và chị Vũ Thị X vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, trong đó anh Nguyễn Đức P có đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt này không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 28/5/2025, tại phòng trọ của Nguyễn Như T6, Phạm Thành Đ1 và Trần Văn T thuê trọ tại khu phố T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (Nay là tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh) thuê của bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Như T6, Trần Văn T và Đào Xuân T3 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Đức P, trong đó: T là người khởi xướng, T và T6 cung cấp địa điểm sử dụng ma túy là phòng trọ của 02 người; T chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn trong phòng trọ; T3 bỏ tiền mua ma túy, T và T3 cùng liên lạc mua ma túy. Quá trình sử dụng ma túy thì T3 là người lấy dụng cụ để sử dụng ma túy, đổ ma túy vào cóong, dùng bật lửa ga

6

màu đỏ đốt dưới cóong cho ma túy tan chảy bốc khói để T6, T, T3 và P sử dụng ma túy.

Do các bị cáo đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Đức P với số người là trên 02 người nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T7, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử các bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Các bị cáo nhất thời phạm tội, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện tội phạm do vậy không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

Bị cáo T7 là người khởi xướng, liên lạc, trực tiếp mua ma túy, cung cấp địa điểm, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn trong phòng trọ; bị cáo T3 là người bỏ tiền ra để mua ma túy, cùng T7 liên lạc để mua ma túy; quá trình sử dụng ma túy, bị cáo T3 là người lấy dụng cụ để sử dụng ma túy, đổ ma túy và dùng bật lửa ga để đốt cho ma túy tan chảy để cho các bị cáo và P sử dụng ma túy nên là T7 và T3 đều là người có vai trò chính; T6 đồng ý cho các bị cáo khác sử dụng địa điểm mà bị cáo quản lý để sử dụng ma túy, không tham gia vào quá trình mua ma túy nên có vai trò thấp hơn hai bị cáo còn lại.

[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo Thạo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo T7 có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang, huân chương chiến công; bị cáo T6 đã từng tham gia quân ngũ, hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

7

Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều phạm tội rất nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật hình sự, lại là loại tội liên quan đến ma túy nên cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ đã nêu ở trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có tài sản riêng, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với túi niêm phong mẫu vật hoàn lại theo giám định bên trong có ma túy và công cụ sử dụng ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành và là công cụ phương tiện sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

02 bật lửa ga màu đỏ; sim điện thoại 0843.197.xxx và sim điện thoại 0987.734.xxx là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, có liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco X3 NFC màu xanh thu giữ của Trần Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A16 5G màu xanh thu giữ của Đào Xuân T3 là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17K màu xanh có kèm 02 sim số thuê bao 0333.414.444 và 0335.324.234 thu giữ của Nguyễn Như T6 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Như T6 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn xanh, Biển kiểm soát 79D1-144.44; Số máy đã bị tẩy xóa; Số khung: ZDCKF08A06F064420 đã qua sử dụng tạm giữ của Nguyễn Như T6. Tại kết luận giám định số 1349/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Số khung của xe mô tô gửi giám định không bị tẩy xóa, đóng đục lại, hàng chữ số *ZDCKF08A06F064420* đóng trên khung xe là nguyên thủy. Số máy của xe mô tô gửi giám định bị tẩy xóa. Quá trình giám định khôi phục được KF08E*00...*KTG...1 đóng trên thân máy là nguyên thủy”. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên có số khung trùng với là xe của chị Vũ Thị X, chị X bị mất chiếc xe cùng đăng ký xe để trong cốp xe vào khoảng tháng 10/2017; nhưng số máy có sự tẩy xóa nên chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe trên; vụ việc trên xảy ra trên địa bàn phường H, thành phố Hà Nội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã chuyển nguồn tin về tội phạm và đề nghị Công an phường H tiếp nhận chiếc xe mô tô trên để giải quyết theo quy định pháp luật là phù hợp.

Đối với số điện thoại 0332.290.xxx của nam thanh niên bán ma túy cho Trần Văn T, quá trình điều tra xác định số điện thoại này do anh Đặng Minh T8, sinh năm 1994 có hộ khẩu thường trú tại khu phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh đăng ký chính chủ, hình thức thuê bao trả trước, anh T8 sử dụng số điện thoại này từ năm

8

2017 đến khoảng tết âm lịch năm 2025 thì điện thoại bị hỏng nên anh T8 tháo sim ra để đi sửa máy sau đó bị rơi mất sim. Do sim đã hết tiền nên anh T8 không làm thủ tục báo mất sim và không đăng ký cấp lại số sim đó, hiện tại anh T8 đã sử dụng số điện thoại khác và không biết ai đã nhặt được và sử dụng số điện thoại 0332.290.xxx của mình. Do vậy, không đủ căn cứ để xác định anh T8 là người đã bán ma túy cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét, xử lý đối với anh Đặng Minh T8 là phù hợp.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Trần Văn T, Đào Xuân T3, do T và T3 không biết tên tuổi, địa chỉ của nam thanh niên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không đủ căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau.

Đối với Nguyễn Đức P là người sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định P không có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, ngày 06/6/2025, Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt 1.500.000 đồng là phù hợp.

Đối với Phạm Thành Đ1 là người ở cùng phòng trọ với T6 và T. Khi các đối tượng sử dụng ma túy trong phòng trọ thì Đ1 không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét, xử lý đối với Đ1 là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Thị H2 là chủ phòng trọ, không biết việc các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng trọ do mình quản lý. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét, xử lý đối với bà H2 là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, điều 38, điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Trần Văn T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025.

Xử phạt: Đào Xuân T3 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025.

Xử phạt: Nguyễn Như T6 07 năm 06 tháng tù (Bẩy năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Văn T, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

9

Tịch thu tiêu hủy: 01 Túi niêm phong ký hiệu PS2, bên ngoài túi có ghi kính gửi cơ quan CSĐT-CAT Bắc Ninh. Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 28/5/2025 tại N, T, Bắc Ninh; 02 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 sim số thuê bao: 0843.197.424; 01 sim số thuê bao: 0987.734.593.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco X3 NFC, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A16 5G màu xanh.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Như T6: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17K, màu xanh, kiểu máy CPH2471, có kèm theo hai sim số 0333.414.444 và 0335.324.234 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/10/2025; biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/11/2025 và biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 30/5/2025).

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Văn T, Đào Xuân T3, Nguyễn Như T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 9 – Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Thi hành án Dân sự tỉnh Bắc Ninh (HLPL);
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Yến

(Đã ký)

10
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T và đồng phạm phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger