TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 12-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương
Thẩm phán: Bà Hoàng Hải Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Khua
Ông Phạm Trung Hiếu
Bà Trần Thị Đàm
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Hoàng Anh Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Thị Bích H, sinh năm 1984; đăng ký NKTT tại: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S và bà Phạm Thị P; chồng là Phạm Trí D (đã ly hôn tháng 4 năm 2025) và có 02 con (lớn sinh năm 2007; nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 02-01-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Ngọc H1- Luật sư Văn phòng L1 - Đoàn Luật sư tỉnh Y. Có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Trí D - Sinh năm 1986. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ C, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Thị P. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị Đ. Có mặt.
- Ông Nguyễn Mạnh H2. Có mặt.
- Bà Đặng Thị Bích H3. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Bích H và anh Phạm Trí D kết hôn với nhau từ năm 2023. Sau đó, H và anh D thuê phòng trọ tại đường P, thuộc tổ A phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái để cùng sinh sống. Đến khoảng tháng 10/2024 H nghi ngờ D có quan hệ yêu đương với một người tên L làm cùng Công ty với anh D, nên vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và đang làm thủ tục ly hôn.
Khoảng 11 giờ 30 ngày 01-01-2025 D và H được anh Hoàng Viết H4 là người cùng làm với D mời đến nhà ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm, uống rượu xong anh D và H trở về phòng trọ, tại đây giữa H với anh D xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, liên quan đến việc H cho rằng anh D ngoại tình. Do anh D uống rượu say nên đã lên giường đi ngủ, H cũng lên giường nằm. Vì ghen tuông, nghi ngờ anh D ngoại tình nên H đã nảy sinh ý định giết anh D sau đó sẽ tự tử. Nên H đi vào bếp lấy một con dao sử dụng sinh hoạt trong gia đình có chiều dài 40 cm, dạng 01 lưỡi sắc, lưỡi dài 27 cm, bản dao rộng 07cm cầm đến giường anh D đang nằm, lúc này anh D đang nằm nghiêng về phía bên phải, mặt hướng về phía trong tường. H đứng dưới đất ở vị trí ngang với đầu của anh D, cầm dao bằng tay phải hướng lưỡi dao vào phần đầu anh D, Hồng chém theo hướng từ trên xuống dưới liên tiếp khoảng 04 nhát vào vùng đầu anh D. Bị H chém, anh D vùng dậy, bỏ chạy ra khỏi phòng trọ và được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Y từ ngày 01-01-2025 đến ngày 08-01-2025 thì ra viện. Sau khi chém anh D, H vứt dao dưới gầm giường và lấy được 04 viên thuốc ngủ của mẹ đẻ cho trước đó để uống tự tử nhưng nghĩ không đủ thuốc, nên H đi xe mô tô đến hiệu thuốc Tuấn H5 số 275 đường Đ, phường Y, thành phố Y mua 02 vỉ thuốc SEDUXEN loại 5mg (mỗi vỉ có 10 viên). Sau đó, H đến nhà dì ruột là bà Phạm Thị Đ tại Thôn L, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái và đã uống một số viên thuốc ngủ. Tuy nhiên, H được người nhà phát hiện và đưa đi đến Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Yên Bái cấp cứu.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 23/KLTTCT-TTPY ngày 21/02/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y đối với anh Phạm Trí D; kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Trí D tại thời điểm giám định là 42% (bốn mươi hai phần trăm).
Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS-P2 ngày 15-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Lê Thị Bích H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên trình bày bản luận tội và giữ nguyên toàn bộ quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bích H phạm tội “Giết người”
- Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bích H từ 13 năm đến 14 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo có tác động mẹ đẻ là bà Phạm Thị P nộp số tiền 5.000.000đồng tại Cục Thi hành án tỉnh Yên Bái để bồi thường cho bị hại là anh Phạm Trí D, nhưng anh D không yêu cầu bồi thường, nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với con dao bị cáo sử dụng chém anh D; đối với 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Bích H: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người có nhân thân tốt; phạm tội chưa đạt; thành khẩn khai báo và đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo với mức án từ 12 năm đến 13 năm tù.
Bị cáo nhất trí với nội dung bào chữa của người bào chữa. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.
Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị P không có yêu cầu đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được coi là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Lê Thị Bích H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường; phù hợp với thương tích để lại trên cơ thể của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận: Do nghi ngờ ghen tuông anh Phạm Trí D (chồng bị cáo) có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, nên Lê Thị Bích H đã có hành vi dùng một con dao có chiều dài 40 cm, dạng 01 lưỡi sắc, lưỡi dài 27 cm, bản dao rộng 07cm là hung khí nguy hiểm chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng đầu là vùng trọng yếu của cơ thể con người, có thể sẽ dẫn tới hậu quả anh D bị tử vong. Việc anh D không chết và bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên với tỉ lệ là 42% là do được cấp cứu, điều trị kịp thời.
Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự với tình tiết tăng nặng định khung “Có tính chất côn đồ”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Lê Thị Bích H là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét bị cáo Lê Thị Bích H là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Chỉ vì ghen tuông không có căn cứ, bị cáo đã dùng dao chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể người chồng của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa bàn. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời đảm bảo việc răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét cho bị cáo được hưởng.
Tại giai đoạn xét xử, bị cáo có tác động gia đình nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Yên Bái để bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị hại anh Phạm Trí D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, số tiền trên cần trả lại cho bị cáo H (bà Phạm Thị P nộp thay cho bị cáo).
Do hậu quả chết người chưa xảy ra nên bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[7] Đối với nhà thuốc Tuấn H5 đã bán thuốc ngủ SEDUXEM cho Lê Thị Bích H khi không có đơn thuốc. Cơ quan điều tra đã có văn bản số 831/VPCQCSSĐT ngày 24-4-2025 đề nghị Sở y tế tỉnh Y xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
- Đối với 01 con dao có chiều dài 40 cm, dạng một lưỡi sắc, lưỡi dài 27 cm, bản rộng 07 cm trên dao có chữ “Đa Sỹ Đặc Biệt” là công cụ phạm tội. Nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng thu giữ của bị cáo H. Xét không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bích H phạm tội “Giết người” chưa đạt.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bích H 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 02-01-2025)
3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao có chiều dài 40 cm, dạng một lưỡi sắc, lưỡi dài 27 cm, bản rộng 07 cm, trên dao có chữ “Đa Sỹ Đặc Biệt”.
- Trả lại cho bị cáo Lê Thị Bích H: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y và Cục thi hành án dân sự tỉnh Yên Bái).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Thị Bích H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thu Hương |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về giết người
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Bích H - Giết người
