|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 12-03-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Minh;
- Ông Lê Văn Dài;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/HSST-QĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, đối với:
Bị cáo Trần Văn C, sinh ngày 01/01/1983; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh An Giang; Nơi thường trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Biết đọc chữ, biết viết; Con ông Trần Văn G, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965; Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/11/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 532/QĐ-UBND, Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Trần Văn C, thời gian cai nghiện từ ngày 20/11/2023 đến ngày 20/11/2024; Nhân thân: Ngày 31/7/2012, Trần Văn C bị Toà án nhân dân tỉnh An Giang, tuyên phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 65/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2017 (đã xóa án tích); Tạm giữ: Ngày 17/11/2024; Tạm giam: 26/11/2024; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo đang bị tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực T – Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Bị hại:
- Võ Văn D, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Phan Ngọc P, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
- Võ Văn M1, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Văn D1, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị M, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
- Lê Thị T, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
(Bà M và bà T có mặt; bị hại và người làm chứng còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 16/11/2024, Trần Văn C điều khiển xe mô tô biển số 52L8-2161 đi từ nhà ở xã K, huyện C, tỉnh An Giang đến địa phận các xã C thuộc huyện T, tỉnh Đồng Tháp để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 23 giờ, C điều khiển xe đến khu vực ấp T, xã T thì thấy có đường mòn đất ra cánh đồng ruộng và vườn xoài; Cọp chạy tới cuối đường dừng lại và cầm theo giỏ đệm đựng nhiều dụng cụ là 01 tấm vải màu xanh, 01 cây kiềm, 01 cây cưa, 01 cây mỏ lết, 04 cây cờ lê, 01 cây dũa, 01 dây kim loại 02 đầu có gắn cây gỗ, 01 ống kim loại phuộc xe và 02 thanh sắt hình chữ L, rồi đi xung quanh khu vực đó để tìm kiếm tài sản lấy trộm.
Lúc này, Cọp phát hiện tài sản của ông Phan Ngọc P, sinh năm 1993, cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là 01 giàn máy phun thuốc (gồm 01 mô tơ điện và 01 máy nén), được để giữa liếp trồng xoài, có dây xích sắt và ổ khóa khóa lại vào gốc cây xoài. Cọp dùng tay xoay làm đứt sợi xích, rồi vác tài sản mang lại vị trí đậu xe. Cọp tiếp tục quay lại để tìm tài sản khác thì phát hiện trại làm vườn xoài của ông Võ Văn D, sinh năm 1987, cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp có khóa cửa ngoài bằng ổ khóa; Cọp dùng đoạn sắt hình chữ L, mũi nhọn để cạy ổ khóa và vào bên trong trại lấy 01 giàn máy phun thuốc (gồm 01 mô tơ điện và 01 máy nén), 04 mô tơ điện, 02 máy bơm chìm, 01 máy biến tần, 01 bóng đèn LED, 01 cuộn dây điện và 01 xe đẩy bằng sắt; Cọp để tất cả đồ vật nêu trên lên xe đẩy kéo về vị trí đậu xe ban đầu và cột xe đẩy vào phía sau xe mô tô 52L8-2161; riêng giàn máy phun thuốc lấy trộm được của ông P để phía trước ba ga xe cùng với giỏ đệm đựng dụng cụ rồi chạy xe kéo tất cả đi ra hướng đường lộ nhựa để đi về nhà.
Khi C điều khiển xe chở các tài sản vừa trộm được khoảng 200 mét, thì bị ông Võ Văn M1, sinh năm 1976, cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1979, cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và Võ Văn D phát hiện bắt quả tang, rồi trình báo lực lượng Công an xã T đến giải quyết và đưa tất cả vật chứng về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Trần Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 155/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T, xác định:
- 02 mô tơ điện nhãn hiệu Cá Sấu, loại 0.5HP, giá trị còn lại: 500.000 đồng;
- 01 mô tơ điện nhãn hiệu Bảo Long 0.5HP, giá trị còn lại: 350.000 đồng;
- 01 máy bơm nhãn hiệu Xilong, giá trị còn lại: 200.000 đồng;
- 01 máy bơm chìm, màu trắng, không nhãn hiệu giá trị còn lại: 200.000 đồng;
- 01 máy biến tần Power, giá trị còn lại: 150.000 đồng;
- 01 mô tơ điện nhãn hiệu Yungshen, loại 2HP 4P giá trị còn lại: 1.500.000 đồng;
- 01 mô tơ điện nhãn hiệu THC Super win, loại 2HP giá trị còn lại: 1.000.000 đồng;
- 01 mô tơ điện nhãn hiệu Bảo Long, loại 2HP giá trị còn lại: 950.000 đồng;
- 01 máy nén nhãn hiệu Power Sprayer, loại 1.0HP giá trị còn lại: 1.000.000 đồng;
- 01 máy nén nhãn hiệu Power Sprayer, loại 1.0HP giá trị còn lại: 800.000 đồng;
- 01 xe đẩy sắt kích thước khung 139cm x 48cm x 49cm, chiều dài tay cầm 76cm, giá trị còn lại: 2.500.000 đồng;
- 01 bóng đèn LED, không rõ nhãn hiệu giá trị còn lại: 60.000 đồng;
- 01 cuộn dây điện màu xanh, có chữ DAPHACO VFF 0.5, có chiều dài 45m giá trị còn lại: 225.000 đồng;
Tổng giá trị tài sản là: 9.435.000 đồng.
* Vật chứng khác bị thu giữ của Trần Văn C gồm:
- 01 xe mô tô biển số 52L8-2161(đã qua sử dụng).
- 01 giỏ đệm nhựa bên trong có: 01 tấm vải màu xanh; 01 cây kiềm; 01 cây cưa; 01 cây mỏ lết; 04 cây cờ lê; 01 cây dũa; 01 dây kim loại 02 đầu có gắn cây gỗ; 01 ống kim loại phuộc xe và 02 thanh sắt hình chữ L (tất cả đã qua sử dụng).
Đối với xe mô tô biển số 52L8-2161 thu giữ, C khai nhận mua lại của một người đàn ông lạ (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) thu mua phế liệu tại khu vực xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào khoảng tháng 4/2024, với số tiền 850.000 đồng (T1 trăm năm mươi nghìn đồng), không có giấy tờ chứng minh. Qua xác minh chủ sở hữu, biển số xe thu giữ là do Hồng Thị Tuyết L1, địa chỉ A N, Phường B, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên. Đồng thời, qua tra cứu xe biển số 52L8-2161, không có trong hệ thống xe tang vật trong các vụ án khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thông báo truy tìm chủ sở hữu biển số xe nêu trên và ủy thác điều tra nhưng không có kết quả, không chứng minh được nguồn gốc xe.
* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Võ Văn D và Phan Ngọc P, đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi của mình phù hợp lời khai các bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSTB, ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về căn cứ pháp luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt:
Bị cáo Trần Văn C mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
- Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 52L8-2161.
Tịch thu tiêu hủy: 01 giỏ đệm bên trong có: 01 tấm vải màu xanh; 01 cây kiềm; 01 cây cưa; 01 cây mỏ lết; 04 cây cờ lê; 01 cây dũa; 01 dây kim loại 02 đầu có gắn cây gỗ; 01 ống kim loại phuộc xe và 02 thanh sắt hình chữ L.
* Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng số 09/CT-VKSHTB ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình là đúng với hành vi của bị cáo.
Để có tiền tiêu xài, bị cáo Trần Văn C có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của ông Võ Văn D gồm 05 mô tơ điện các loại, 01 máy nén, 02 máy bơm chìm, 01 máy biến tần, 01 bóng đèn LED, 01 cuộn dây điện màu xanh dài 45m, 01 xe đẩy sắt, có giá trị 7.685.000 đồng và lấy trộm tài sản của ông Phan Ngọc P gồm 01 mô tơ điện, 01 máy nén, đã qua sử dụng, có giá trị 1.750.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 9.435.000 đồng vào khoảng 22 giờ ngày 16/11/2024, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai các bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi của bị cáo Trần Văn C đã vi phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét hành vi của bị cáo Trần Văn C khi thực hiện tội phạm đã trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Do muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn lao động nên bị cáo cố tình chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo còn khai rằng hiểu rõ việc trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo vệ, gây nguy hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi lượng hình cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8] Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô biển số 52L8-2161; số loại 110, màu đỏ; số máy: Không có, số khung: Không có, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 giỏ đệm nhựa, sọc ca rô, màu đỏ - xanh – vàng, bên trong có: 01 tấm vải màu xanh; 01 cây kiềm; 01 cây cưa; 01 cây mỏ lết; 04 cây cờ lê; 01 cây dũa; 01 dây kim loại 02 đầu có gắn cây gỗ; 01 ống kim loại phuộc xe và 02 thanh sắt hình chữ L là công cụ phạm tội và hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[11] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 09/CT-VKSTB ngày 21/01/2025 và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về các tội danh cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ pháp luật và hình phạt.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển số 52L8-2161; số loại 110, màu đỏ; số máy: Không có; số khung: Không có (đã qua sử dụng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 giỏ đệm nhựa, sọc ca rô, màu đỏ - xanh – vàng; 01 tấm vải màu xanh; 01 cây kiềm; 01 cây cưa; 01 cây mỏ lết; 04 cây cờ lê; 01 cây dũa; 01 dây kim loại 02 đầu có gắn cây gỗ; 01 ống kim loại phuộc xe và 02 thanh sắt hình chữ L (tất cả đã qua sử dụng).
(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/01/2024).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đô |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hoàng Minh – Lê Văn Dài |
Trần Văn Đô |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
