|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 11-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Năm
Bà Võ Thị Vân Khánh
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Hiếu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Kim Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (tên gọi khác: P); sinh ngày: 09/4/1989; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo Hoà Hảo; giới tính: nam; con của ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị Ú1, sinh năm: 1959; vợ: Huỳnh Thị H, sinh năm: 1988; con: Nguyễn Huỳnh Kim N, sinh năm 2021; tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/7/2010 bị Toà án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2010/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2016 và đã thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm theo xác nhận số 36/CCTHADS ngày 20/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; ngoài ra, Nguyễn Văn T còn bị UBND phường T, quận B lập biên bản vi phạm hành chính số 0009116/BB-VPHC ngày 27/12/2024 và bị áp dụng biện pháp quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 2580/QĐ-QLNN ngày 31/12/2024. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/01/2025 đến nay; hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Long An (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: chị Lương Thị C, sinh năm: 1986.
2
Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Hoài N1; sinh ngày: 08/8/1996; Nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 14/7/2024, Lê Hoài N1 đến nhà Nguyễn Văn T tại khóm V, phường C, Thành phố C, tỉnh An Giang chơi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T rủ N1 cùng đi lên Thành phố Hồ Chí Minh chơi và rủ N1 trên đường đi tìm xe mô tô của người dân để sơ hở lén lút lấy trộm, đem lên Thành phố Hồ Chí Minh bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, N1 đồng ý. T điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu đen, không rõ biển số, chở N1 ngồi phía sau xuất phát đi từ nhà của T lưu thông về hướng Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, T điều khiển xe mô tô chở N1 ngồi phía sau lưu thông vào chợ T1 để tìm tài sản trộm cắp, khi lưu thông vào chợ T1 thì N1 và T nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Vision, màu cam, biển số 66M1-385.77 của chị Lương Thị C dựng cặp lề lộ tại khu phố C, thị trấn T, không có người trông giữ. N1 trực tiếp dùng đoản bằng kim loại do N1 chuẩn bị sẵn trước đó bẻ khóa xe, khởi động máy xe và điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm được lưu thông theo phía sau xe mô tô của T về hướng Thành phố Hồ Chí Minh. Khi N1 điều khiển xe trên Quốc lộ N đến đoạn thuộc ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an bắt giữ còn Nguyễn Văn T chạy thoát. Đến ngày 10/01/2025, T bị bắt giữ. Qua điều tra, Lê Hoài N1 khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 16/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Long An kết luận: 01 xe mô tô biển số 66M1-385.77 nhãn hiệu Honda, số loại VISION, số máy JF58E0317788, số khung 5805EY432001, đã qua sử dụng, có giá trị 9.171.800 đồng.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTT, ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Văn T gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50 Bộ Luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung; về vật chứng: đã
3
được giao trả lại cho bị hại nên không đề nghị xử lý; về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên đại diện Viện kiểm sát không đề cập.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát, Điều tra viên. Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại Lương Thị C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Lê Hoài N1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, giấy báo phiên tòa đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được: khoảng 19 giờ 34 phút ngày 14/7/2024, tại khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, Nguyễn Văn T và Lê Hoài N1 đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn cam, biển số 66M1-385.77, đã qua sử dụng, có giá trị 9.171.800 đồng của chị Lương Thị C.
Tại thời điểm thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Văn T đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tài sản thuộc quyền
4
quản lý, sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con nhỏ nên còn được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, về nhân thân, bị cáo đã bị kết án về hành vi vi phạm pháp luật hình sự như sau: tiền án: ngày 14/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 07 năm tù. Ngoài ra, sau khi Nguyễn Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với Lê Hoài N1. N1 bị bắt, T tẩu thoát được. Trong thời gian cơ quan điều tra chưa bắt được T, T còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên bị UBND phường T, quận B lập biên bản vi phạm hành chính số 0009116/BB-VPHC ngày 27/12/2024 và bị áp dụng biện pháp quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 2580/QĐ-QLNN ngày 31/12/2024. Do đó, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa tốt.
[8] Trên cơ sở phân tích những vấn đề nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Nguyễn Văn T đã từng bị kết án về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành án nhưng không có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[9] Từ những phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về hình phạt bổ sung: theo quy định khoản 5 điều 173 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
[11] Về những vấn đề có liên quan đến vụ án:
5
Đối với Lê Hoài N1 đã cùng bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Lê Hoài N1 đã bị xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 17/12/2024 với hình phạt là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án.
[12] Về vật chứng trong vụ án: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
[12.1] Đối với 01 xe mô tô biển số 66M1-385.77 nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn cam, số máy JF58E0317788, số khung RLHJF5805EY432001 đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Lương Thị C. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chị Lương Thị C nên không đề cập.
[12.2] Đối với 01 đĩa DVD gồm có 01 đoạn camera ghi hình được trích xuất từ camera nhà ông Nguyễn Thanh B, với thời gian 57 giây, bắt đầu từ 19h34 phút đến 19h34 phút 57 giây ngày 14/7/2024 ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn T, Lê Hoài N1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; 01 cây điếu tự động bằng kim loại, đầu điếu dài 08 mm, cán có quấn băng keo nhựa màu đen, là công cụ mà N1 sử dụng để phá khoá xe để lấy trộm, vật chứng đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 17/12/2024 nên không đề cập xử lý.
[12.3] Đối với xe mà Nguyễn Văn T dùng để chở Lê Hoài N1 đi và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có nguồn gốc do T mua của một người không rõ lai lịch, không có giấy tờ, chưa sang tên. T đã bán cho người không rõ nhân thân, lai lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu hồi được nên không đề cập xử lý trong vụ án.
[13] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc bị hại Lương Thị C đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không đề cập.
[14] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 10/01/2025).
6
3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (11/3/2025) để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: căn cứ các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Long An;
- - VKSND tỉnh Long An;
- - Sở tư pháp tỉnh Long An
- - VKSND huyện Tân Thạnh;
- - CQCSĐT Công an tỉnh Long An;
- - Phân trại tạm giam khu vực Tân Thạnh
- - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
- - Bị cáo; Bị hại; NCQLNVLQ
- - Lưu hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
6
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
