trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 08/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Huy
Ông Nguyễn Trọng Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trọng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa (cơ sở 1), xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/HSST-QĐ ngày 29/9/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Bá H, sinh năm 1997, tại tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Bản M, xã M, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Bá D và con bà Lương Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; tiền sự: 01, ngày 18/10/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng theo Quyết định số 01/2022/QĐ-TA, ngày 19/10/2024 bị cáo đã chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2025 đến ngày 14/6/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh T, có mặt.

2. Họ và tên: Lữ Văn T, sinh năm 1991, tại tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Bản H, xã S, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Mạnh T1 và con bà Lữ Thị L; Vợ Vi Thị Y và 01 con nhỏ; Tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng theo Quyết định số 05/2020/QĐ-TA, ngày 12/12/2022, đã chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2025 đến ngày 14/6/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh T; bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lữ Văn T: Bà Nguyễn Thị Q - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bài bào chữa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Bá D, sinh năm 1974; địa chỉ: bản M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng, khoảng 09 giờ sáng ngày 08/6/2025, bị cáo H điều khiển xe mô tô Wave RSX màu xám đen, BKS: 36H7 - 109.53 (xe của ông Phạm Bá D - Bố bị cáo H) đi từ nhà lên khu vực giáp ranh giữa Việt Nam - Lào để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực bản X, xã N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo gặp bị cáo Lữ Văn T, và rủ T đi mua ma túy, các bị cáo thống nhất cùng nhau lên khu vực giáp biên giới V - Lào thuộc địa phận xã N, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua ma túy về sử dụng. Quá trình bàn bạc bị cáo H nói với bị cáo T, đang có sẵn 170.000 đồng nhưng chưa biết giá cả ma túy bán như thế nào nên các bị cáo thống nhất cứ đi lên khu vực giáp biên nếu tìm mua ma túy, mua được bao nhiêu thì chia đôi còn tiền T sẽ trả cho H sau. Sau đó, mỗi bị cáo đi một xe máy (T đi xe máy BKS: 36H7 - 066.63, của ông Lữ Mạnh T1 (bố T). Khi đi lên đến đầu cầu C, thấy đường dốc khó đi nên T để lại xe máy của mình ở rìa đường rồi đi cùng xe máy với H men theo đường mòn vào rừng tìm người bán ma túy. Khi đi theo đường mòn vào sâu trong rừng khoảng 1km, các bị cáo gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi, da ngăm đen, dáng cao gầy đang ngồi chơi điện thoại ở bên rìa đường thuộc địa phận Việt Nam cách đất Lào khoảng 2-3km, H dừng xe lại hỏi người nam giới có phải tên T2 hay không? thì người này trả lời phải. Khi xác định được đúng người bán ma túy, H lấy ra 170.000 đồng hỏi T2 “chỗ này thì mua được bao nhiêu trắng” (tức mua được bao nhiêu heroin) thì T2 cầm tiền và lấy từ túi quần đang mặc 05 gói nilon bên trong chứa heroin đưa cho H, H mở ra kiểm tra và đưa cho T xem đồng thời lấy ra một ít ma túy để sử dụng thử. Dùng ma túy xong, H đưa cho T 02 gói nilon, H giữ 03 gói. Sau đó cả hai cùng cất giấu ma túy vào núm cao su ở yên xe máy rồi cùng đi về. Khi về đến khu vực bản C, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng C phối hợp với Đồn Biên phòng M và Công an xã N đang tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực bản C, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là bản C, xã N, tỉnh Thanh Hóa) phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy cùng 02 xe máy.

Tại Kết luận giám định số 1958/KL-KTHS ngày 10/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất rắn màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 1,555g, loại Heroine.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế C đã khởi tố vụ án, chuyển Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T giải quyết theo thẩm quyền.

* Vật chứng của vụ án

  • - 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành. Được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T3, Lại Thị Thanh L1, Đào Văn S cùng các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.
  • - 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám đen, BKS: 36H7 - 109.53; số khung: RLHJA3846MY146856; số máy: JA52E0330916 tạm giữ của Phạm Bá H, chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Thanh Hóa bảo quản, chờ xử lý.
  • - Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen đỏ, BKS: 36H7 - 066.63, số khung: 4645GY106730; số máy: JA36E0585584, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã xử lý, trả lại cho chủ sở hữu là ông Lữ Mạnh T1
  • - Đối với người đàn ông tên T2, theo lời khai của các bị cáo đều không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của T2. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nên chưa có căn cứ xử lý, đề nghị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với Phạm Bá D, là chủ sở hữu của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám đen, BKS: 36H7 - 109.53; số khung: RLHJA3846MY146856; số máy: JA52E0330916, khi bị cáo H sử dụng để đi mua và cất giấu ma túy. Quá trình điều tra xác định ông D không biết H sử dụng xe vào hành vi phạm tội nên không xử lý hình sự đối với ông D.

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSKV11 ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Phạm Bá H, Lữ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • * Về trách nhiệm hình sự đề nghị:
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Bá H mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù; xử phạt bị cáo Lữ Văn T mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam
  • Miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo.
  • * Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định
  • - Trả lại cho ông Phạm Bá D 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám đen, BKS: 36H7 - 109.53; số khung: RLHJA3846MY146856; số máy: JA52E0330916.
  • * Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.

Quan điểm bảo chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo T:

Thống nhất quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị HĐXX xem xét động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội và nhân thân, hoàn cảnh bị cáo, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị rủ rê mua ma túy để sử dụng, là lao động chính, là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo T thống nhất quan điểm bào chữa và trình bày có ông bà nội, ngoại tham gia cách mạng, được tặng thưởng huân chương. Bị cáo có đơn xin miễn giảm án phí.

Bị cáo H không tranh luận gì, trình bày có ông nội tham gia cách mạng

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có không tranh luận.

Quan điểm tranh luận của Kiểm sát viên đối với ý kiến các bị cáo trình bày có ông bà nội, ngoại tham gia cách mạng và đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS của người bào chữa:

Về đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS của người bào chữa: không có căn cứ áp dụng bởi lẽ, bị cáo không phải lao động chính

Về trình bày của các bị cáo có ông bà nội ngoại tham gia cách mạng được tặng thưởng huân chương: các bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ áp dụng.

Lời nói sau cùng của bị cáo T, bị cáo rất ăn năn hối cải mong HĐXX chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo H không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội:

Tại phiên tòa bị cáo H khai nhận, để thỏa mãn cơn nghiện, sáng ngày 08/6/2025, bị cáo rủ bị cáo T cùng lên khu vực giáp biên giới Việt Nam- Lào, thuộc bản C, xã N, tỉnh Thanh Hóa, tìm mua ma túy về sử dụng, bị cáo dùng 170.000.000₫ mua 05 gói ma túy, khối lượng 1,555g, loại Heroine, sau khi mua được ma túy, bị cáo chia cho T 02 gói, cả hai cùng cất giấy ma túy vào núm cao su ở yên xe máy, rồi cùng ra về thì bị Tổ tuần tra Đồn Biên phòng C phối hợp với Đồn Biên phòng M và Công an xã N phát hiện bắt quả tang người và tang vật.

Bị cáo Lữ Văn T khai nhận, bị cáo thừa nhận lời khai của bị cáo H là chính xác, sáng ngày 08/6/2025, bị cáo đang ở khu vực bản X, xã N, tỉnh Thanh Hóa thì gặp bị cáo H, tại đây H rủ bị cáo lên khu vực biên giới Việt Nam - Lào tìm mua ma túy về sử dụng, bị cáo không có tiền, H có 170.000đ, bị cáo và H thống nhất đi lên bản Cha Khót, xã N mua ma túy, khi đến bản Cha Khót, các bị cáo đi sâu vào rừng thì gặp 1 người đàn ông tên T2, tại đây H đưa cho người đàn ông số tiền 170.000đ, người đàn ông lấy trong túi quần ra đưa cho H 05 gói nilon bên trong có chứa ma túy, H đưa cho bị cáo 02 gói, H cầm 03 gói, sau đó cả hại giấu vào núm cao su ở yên xe máy của H rồi ra về đến cầu bản Cha K bị bắt quả tang người và tang vật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, Biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định, nội dung bản Cáo trạng, luận tội của kiểm sát viên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy 05/CT-VKSKV11 ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

HĐXX đủ căn cứ kết luận các hành vi của Phạm Bá H và Lữ văn T đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có đông người tham gian nên là đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp bỏ tiền ra mua ma túy nên phải chịu trách nhiệm chính, còn bị cáo T, khi được H rủ rê đi mua ma túy đã hưởng ứng tích cực nên chịu trách nhiệm vai trò sau H.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo đều còn trẻ, đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung là các chất gây nghiện được Đảng, Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán trái phép nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy nên các bị cáo đã có hành vi tàng trữ khối lượng 1,555g, loại Heroine, do các bị cáo đều có hành vi tàng trữ khối lượng ma túy trên 0,1g và dưới 5g nên phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Hành vi của bị cáo không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm băng hoại đạo đức lối sống mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tệ nạn xã hội khác, vì vậy cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng tính chất mức độ từng bị cáo nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, các bị cáo đều có nhân thân xấu đã bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc, nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Vê tình tiết tăng nặng, các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã bị cơ quan chức năng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn lệ thuộc vào ma túy dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến ma túy, thể hiện tinh thần, thái độ còn coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người công dân có ích cho xã hội. Do đó, cần cân nhắc khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên HĐXX xét thấy cần lên cho các bị cáo mức hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc, thu nhập không ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với chiếc xe máy thu giữ của bị cáo H, qua xác minh chiếc xe trên là của ông Phạm Bá D (bố H) khi H lấy sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, ông D không biết nên không có lỗi, trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám đen, BKS: 36H7 - 109.53; số khung: RLHJA3846MY146856; số máy: JA52E0330916 cho ông Phạm Bá D.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen đỏ, BKS: 36H7 - 066.63, số khung: 4645GY106730; số máy: JA36E0585584, thu giữ của bị cáo T, không liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT đã xử lý, trả lại cho chủ sở hữu ông Lữ Mạnh T1 là phù hợp.

[8]. Về tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với người đàn ông tên T2 đã bán ma túy cho các bị cáo. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nên chưa có căn cứ xử lý. Đề nghị Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

[9]. Về án phí: Bị cáo T thuộc đối tượng người dân tộc thiểu số, cư trú tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; có đề nghị miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp. bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Bá H và Lữ Văn Trọng phạm T4 “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Bá H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2025.

Xử phạt: Bị cáo Lữ Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2025.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành. Được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T3, Lại Thị Thanh L1, Đào Văn S cùng các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.

Trả lại cho ông Phạm Bá D: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám đen, BKS: 36H7 - 109.53; số khung: RLHJA3846MY146856; số máy: JA52E0330916.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Thanh Hóa ngày 09/9/2025.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T. Buộc bị cáo Phạm Bá H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Áp dụng các Điều 331, 333, 336, 337 của BLTTHS. Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có mặt. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT CAT Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS Công an Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 11 - Thanh Hóa;
  • - THADS Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Cổng TTĐT-TAND;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, tổ HCTP, CA

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình Hợp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 08/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger