Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH LONG AN

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 08 tháng 4 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Song Tiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Bé

Ông Huỳnh Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tòng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/HSST ngày 28 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1991 tại tỉnh Long An.

    Nơi cư trú: Số C, ấp B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung H và bà Hồ Thị N; Có vợ bà Trương Thị Thúy A (đã ly hôn) và một con; Tiền sự: Không.Tiền án: 01 lần. Năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30 tháng 8 năm 2023.

    Nhân thân: Năm 2017, bị Công an thành phố T, tỉnh Long An xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong ngày 11/8/2017, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

    Bị cáo Nguyễn Trung Đ bị tạm giữ từ ngày 18 tháng 8 năm 2024 đến ngày 23 tháng 8 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 24 tháng 8 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024. Áp dụng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh ngày 15 tháng 11 năm 2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24 tháng 12 năm 2024. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Trung Đ:

    1. Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1981 (có mặt).

    2. Bà Hồ Thị N, sinh năm 1967 (vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: Số C, ấp B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1981 (có mặt).

    Địa chỉ: Số C, ấp B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An (theo giấy ủy quyền ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Ủy ban nhân dân xã N, thành phố T, tỉnh Long An).

    Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung Đ: Bà Trương Thị H1 – Luật sư của Công ty L2 tại thành phố T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.

  2. Họ và tên: Đinh Tiến Đ1 (tên gọi khác: C), sinh ngày 15 tháng 9 năm 2001 tại tỉnh Long An.

    Nơi cư trú: Số A, Ấp C, xã B, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T (đã chết) và bà Trần Thị Thanh K; Có vợ là bà Đoàn Ngọc Bảo N1 và một người con; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13 tháng 11 năm 2019, thời điểm bị cáo phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên được coi là trường hợp không có án tích.

    Năm 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18 tháng 6 năm 2021, được xóa án tích.

    Bị cáo Đinh Tiến Đ1 bị tạm giữ từ ngày 19 tháng 8 năm 2024 đến ngày 21 tháng 8 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 22 tháng 8 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024. Áp dụng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh ngày 16 tháng 11 năm 2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 24 tháng 12 năm 2024. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

  3. Họ và tên: Nguyễn Tiến M (tên gọi khác: Cu le), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998 tại tỉnh Long An.

    Nơi cư trú: Số F, ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ2 (đã chết) và bà Phạm Thị D; Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo Nguyễn Tiến M bị tạm giữ từ ngày 19 tháng 8 năm 2024 đến ngày 21 tháng 8 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 22 tháng 8 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024. Áp dụng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh ngày 16 tháng 11 năm 2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 24 tháng 12 năm 2024, bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Út B, sinh năm 1967 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Số nhà B, ấp A, xã V, huyện C, tỉnh Long An.

  2. Ông Đặng Hy C1, sinh năm 2000 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Số nhà G, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Ông Trần Kim T1, sinh năm 1992 (có mặt ngày 04 tháng 4 năm 2025 và vắng mặt ngày 08 tháng 4 năm 2025);

    Nơi cư trú: Số nhà D, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Thanh P, sinh năm 2003 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Số nhà B, đường N, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An.

  2. Bà Trần Thị Thu S, sinh năm 1978 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Bà Bùi Thị Thùy L, sinh năm 2003 (vắng mặt);

    Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  4. Bà Trần Thị Thanh K, sinh năm 1978 (có mặt);

    Nơi cư trú: Số nhà F, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An.

  5. Bà Đoàn Ngọc Bảo N1, sinh năm 2004 (có mặt ngày 04 tháng 4 năm 2025 và vắng mặt ngày 08 tháng 4 năm 2025);

    Nơi cư trú: Số A, ấp C, xã B, thành phố T, tỉnh Long An.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1983 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp A, xã V, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 18 tháng 8 năm 2024, tại nhà của bị cáo Đinh Tiến Đ1; địa chỉ số A, Ấp C, xã B, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Trung Đ rủ bị cáo Đinh Tiến Đ1, bị cáo Nguyễn Tiến M đến địa bàn huyện C, tỉnh Long An để bắt trộm chim cảnh về nuôi cả hai đồng ý, bị cáo Đ ra phía sau nhà của bị cáo Đ1 lấy 01 chai xịt hơi bỏ vào túi áo, bị cáo M điều khiển xe mô tô biển số 71B2-754.71 chở bị cáo Đ1, bị cáo Đ ngồi phía sau đến địa bàn huyện C tìm chim cảnh lấy trộm nhưng không có. Lúc này, bị cáo Đ nhớ lại trước nhà bà Nguyễn Thị Út B thuộc Ấp A, xã V, huyện C, tỉnh Long An để cần xé bên trong có chứa dây điện dùng xông đèn thanh long, bị cáo Đ kêu các bị cáo M, Đ1 lấy trộm dây điện thì cả hai đồng ý. Đến nơi, bị cáo M đậu xe đứng ngoài đường đan gần nhà bà B cảnh giới, các bị cáo Đ, Đ1 đi từ ruộng thanh long từ phía sau lên phía trước lấy trộm dây điện để ở khu vực hành lang và khu vực tiền chế trước nhà của bà B. Các bị cáo Đ, Đ1 lấy từng cuộn dây điện đã được cuộn sẵn ôm ra chỗ bị cáo M cùng chất lên ba ga giữa xe rồi các bị cáo Đ, Đ1 tiếp tục đi trở vào nhà bà B lấy trộm dây điện đem ra chất lên xe của bị cáo M đang chờ. Các bị cáo Đ, Đ1 tiếp tục đi trở vào nhà lấy trộm dây điện lần nữa thì bị bà B phát hiện, truy hô. Bị cáo Đ bỏ chạy vứt lại 08 cuộn dây điện tại ruộng thanh long phía sau nhà bà B, bị cáo Đ1 vứt lại 06 cuộn dây điện phía trước nhà bà B chạy ra xe bị cáo M chờ sẵn để tẩu thoát. Ông Nguyễn Trung H2 là con rể của bà B ngủ trong nhà cũng phát hiện truy hô đồng thời dùng xe mô tô cùng quần chúng nhân dân truy đuổi theo các bị cáo M, Đ1 và Đ. Sự việc được trình báo đến Cơ quan Công an, thời điểm này lực lượng tuần tra Công an huyện C phối hợp Công an xã H, Công an xã B đang tuần tra kiểm soát địa bàn thì nhận được tin báo nên cùng truy đuổi theo các bị cáo M, Đ1, Đ. Các bị cáo M, Đ1, Đ chạy đến khu vực ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An thì xe bị vướn vào hàng rào B40 của hộ dân ven đường nên té ngã, Cơ quan Công an bắt giữ được bị cáo Đ cùng tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Riêng, các bị cáo M, Đ1 chạy thoát sau đó đến gặp ông Trần Thanh P mượn xe mô tô biển số 62P2-470.90 đến huyện Đ, tỉnh Long An lẫn trốn, bị cáo Đ1 đưa lại xe mô tô biển số 62K1-651.56 cho ông P chạy và bị thu giữ. Được vận động, ngày 19 tháng 8 năm 2024, các bị cáo M, Đ1 đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.

Tại Bản kết luận định giá số 28/KL-HĐĐG ngày 19/8/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: 128,2 kg dây điện hiệu Cadivi lõi đồng, có giá trị định giá là 10.256.000 đồng.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định các bị cáo Nguyễn Trung Đ và đồng phạm đã thực hiện 2 lần trộm cắp tài sản như sau:

- Khoảng 23 giờ ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại nhà của bị cáo Đinh Tiến Đ1, ông Huỳnh Tiến Đ3 (tên thường gọi là Đ3 mắt kiến, Đ4) rủ bị cáo Nguyễn Tiến M đi trộm chó thì bị cáo Đinh Tiến Đ1 và bị cáo Nguyễn Trung Đ nghe được rồi cùng đi chung với bị cáo M và ông Huỳnh Tiến Đ3. Khi đi, ông Đinh Tiến Đ1 lấy theo 01 đèn pin và điều khiển xe mô tô biển số 71B2-574.71 chở bị cáo Nguyễn Trung Đ, ông Huỳnh Tiến Đ3 đem theo một cục ba tê đã tẩm thuốc (bã chó) và điều khiển xe mô tô hiệu Exciter không rõ biển số kiểm soát của bị cáo Đ3 chở bị cáo Nguyễn Tiến M cùng nhau đi trộm chó. Đến khoảng 01 giờ ngày 09 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Trung Đ, Nguyễn Tiến M và ông Huỳnh Tiến Đ3 đến nhà ông Trần Kim T1 địa chỉ số D, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An nhìn thấy có 01 con chó nuôi thường, nặng 15 kg được cột khu vực nhà tiền chế, ông Huỳnh Tiến Đ3 cho xe đến trước cửa nhà đậu lại, đưa cho bị cáo Minh B1 chó, bị cáo M ngồi phía sau ném vào cho chó ăn. Một lúc sau, thấy con chó nằm bất động, bị cáo M kêu bị cáo Đ vào lấy trộm. Bị cáo Đ dùng chân đạp ngã hàng rào B40 vào nhà bắt trộm chó đem ra để lên xe của bị cáo Đinh Tiến Đ1. Bị cáo Đinh Tiến Đ1 dùng đèn pin rọi xung quanh thì bị cáo Đ nhìn thấy phía sau nhà có để cần xé nên nói với các bị cáo M, Đinh Tiến Đ1 và ông Huỳnh Tiến Đ3 lấy dây điện bán lấy tiền tiêu xài thì tất cả đồng ý. Các bị cáo Đ, Đinh Tiến Đ1 đi vào phía sau nhà thấy dây điện dùng xông đèn thanh long của ông T1 đã cuộn lại bỏ trong 01 bao, dài là 1.479m, hiệu Cadivi, lõi đồng. Bị cáo Đ1 đỡ bao dây điện lên vai cho bị cáo Đông vác trộm đi ra để lên xe của ông Huỳnh Tiến Đ3 rồi tất cả về nhà của bị cáo Đinh Tiến Đ1. Sáng ngày 09 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M đem bán ve chai tiệm không rõ địa chỉ bao dây điện được 3.200.000 đồng, chia cho bị cáo Đ, M, Đinh Tiến Đ1, ông Huỳnh Tiến Đ3 mỗi người số tiền 800.000 đồng, con chó thì làm thịt ăn.

Tại Bản kết luận định giá số 43/KL-HĐĐG ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: 1.479m dây điện lõi đồng, dây đôi mềm, loại Cadivi, có giá trị định giá là 5.206.080 đồng; 01 con chó nuôi thường nặng 15 kg, có giá trị định giá là 1.050.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 6.256.080 đồng.

- Sáng ngày 16 tháng 8 năm 2024, bị cáo Đinh Tiến Đ1 rủ bị cáo Nguyễn Trung Đ đi trộm dây điện bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo Đ đồng ý. Khi đi, bị cáo Đ1 đem theo 01 kiềm cắt dây điện và điều khiển xe mô tô biển số 62K1- 651.56 chở bị cáo Đ tìm dây điện để trộm. Khoảng 11 giờ cùng ngày nhìn thấy ruộng thanh long của ông Đặng Hy C1 thuộc Ấp A, xã V, huyện C, tỉnh Long An đang treo dây điện xông đèn thanh long nhưng chưa mắc bóng đèn mà không người trông coi. Bị cáo Đ1 chạy xe đậu dưới bờ ruộng rồi dùng kiềm cắt, tháo lấy trộm 27 sợi dây điện, dài 1.125m của ông C1 quấn lại cho vào bao tải chở đem bán ve chai được số tiền 760.000 đồng, chia mỗi người số tiền 380.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá số 47/KL-HĐĐG ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: 1.125m dây điện lõi đồng, loại Cadivi, có giá trị định giá là 3.960.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 8440/KLGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận tình trạng tâm thần của Nguyễn Trung Đ như sau:

  • + Về y học: Trước, trong và sau khi gây án cho đến hiện tại đối tượng Nguyễn Trung Đ bị chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ/viêm gan B (F70/B18-ICD10).

  • + Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi gây án cho đến hiện tại đối tượng Nguyễn Trung Đ hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSCT, ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và phân tích, xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, mức độ hành vi vi phạm đối với từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, các điểm b, q, r, s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Tiến Đ1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến M từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp các bị cáo là làm thuê, thu nhập thấp, không ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • - Trả lại xe mô tô biển số 71B2-754.71 cho chủ sở hữu là bà Trần Thị Thanh K.

  • - Xe mô tô biển số 62K1-651.56 là của bị cáo Đinh Tiến Đ1 dùng làm phương tiện phạm tội do đó đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • - 01 bình xịt hơi cay của bị cáo Nguyễn Trung Đ dùng làm công cụ phạm tội cần tịch thu cho tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường và phía bị hại đã nhận tiền bồi thường xong không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về án phí: Buộc các bị cáo nộp án phí theo qui định pháp luật.

Luật sư Trương Thị H1 phát biểu lời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung Đ: Việc thực hiện hành vi phạm tội có nhiều người cùng tham gia nhưng qua điều tra, không phát hiện có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ hay phân công vai trò cụ thể của từng người. Tất cả đều là người thực hành nên ba lần phạm tội trên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Tổng tài sản bị thiệt hại trong vụ án này có giá trị dưới 50.000.000 đồng. Vì vậy:

Về mặt tội danh và điều khoản truy tố, nhận thấy Cáo trạng số 06/CT-VKSCT ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Trung Đ cùng đồng phạm phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, luật sư không có ý kiến khác.

Về mặt trách nhiệm hình sự, luật sư xin có một số ý kiến sau:

Qua quá trình điều tra, nhận thấy bị cáo Nguyễn Trung Đ có hai lần phạm tội trở lên; đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Đối với bị cáo đây là hai tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Đ cũng đã có các hành động thiết thực nhằm giúp Cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án. Theo luật định những việc làm tích cực đó được coi là những tình tiết giảm nhẹ như:

  • + Tự nguyện nộp tiền để khắc phục hậu quả.

  • + Tự thú hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó.

  • + Thành khẩn khai báo.

Ngoài ra, theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 8440/KL.GĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H đối với bị cáo Nguyễn Trung Đ, cho thấy: Về mặt y học: Trước, trong và sau khi gây án, bị cáo chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, viêm gan B; Về mặt khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Bị cáo bị hạn chế về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Đây cũng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do luật định nên khi lượng hình cần lưu ý xem xét đối với bị cáo.

Từ cơ sở phân tích trên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc giữa các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ mà cho bị cáo Nguyễn Trung Đ được hưởng mức án nhẹ nhất.

Về trách nhiệm dân sự: Vấn đề đã được giải quyết xong trong quá trình điều tra nên luật sư không đề cập.

Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định, luật sư không có ý kiến.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M cùng khai nhận hành vi của các bị cáo như Cáo trạng xác định là đúng.

Khoảng 01 giờ ngày 18 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Trung Đ rủ các bị cáo Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M đến nhà bà Nguyễn Thị Út B thuộc Ấp A, xã V, huyện C, tỉnh Long An lấy trộm 128,2 kg dây điện hiệu Cadivi lõi đồng, có giá trị định giá là 10.256.000 đồng của bà B thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Khoảng 01 giờ ngày 09 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M, ông Huỳnh Tiến Đ3 đến nhà ông Trần Kim T1 tại số D, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An bắt trộm 01 con chó nuôi thường nặng 15 kg đem về nhà bị cáo Đinh Tiến Đ1 làm thịt cho cả bọn cùng ăn và lấy trộm 1.479m dây điện lõi đồng, dây đôi mềm, loại Cadivi, đem bán ve chai được 3.200.000 đồng, chia nhau mỗi người được số tiền 800.000 đồng, tổng tài sản thiệt hại có giá trị tài sản định giá là 6.256.080 đồng.

Khoảng 11 giờ ngày 16 tháng 8 năm 2024, bị cáo Đinh Tiến Đ1 rủ bị cáo Nguyễn Trung Đ đến ruộng thanh long của ông Đặng Hy C1 thuộc Ấp A, xã V, huyện C, tỉnh Long An cắt trộm 27 sợi dây điện, dài 1.125m dây điện lõi đồng, loại C2 đem bán ve chai được 760.000 đồng, chia nhau mỗi người được số tiền 380.000 đồng, tổng tài sản thiệt hại có giá trị tài sản định giá là 3.960.000 đồng.

[3] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các biên bản xác minh hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường phù hợp các vật chứng đã thu giữ được trong vụ án, phù hợp với các biên bản và kết luận định giá tài sản cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa đã đủ cơ sở kết luận:

Việc trộm tài sản của các bị hại có nhiều người tham gia, giữa các bị cáo tuy có sự phân công nhưng chưa cấu kết chặt chẽ với nhau nên chỉ là đồng phạm giản đơn không mang tính có tổ chức. Các bị cáo nhiều lần cùng nhau thực hiện việc trộm cắp tài sản nhiều lần, cụ thể: Các bị cáo Đ, Đ1 thực hiện trộm cắp tài sản 3 lần, bị cáo M thực hiện trộm cắp tài sản 2 lần. Do vậy, Cáo trạng số 06/CT-VKSCT, ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...”

[4] Các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M là người đã trưởng thành, biết rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì hám lợi, các bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Đ tuy có bị hạn chế về nhận thức và điều khiển hành vi nhưng thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, có đủ thời gian để các bị cáo lao động và học tập phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét lý lịch nhân thân của từng bị cáo, tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để quyết định hình phạt phù hợp.

- Đối với bị cáo Nguyễn Trung Đ thực hiện trộm cắp tài sản 3 lần, có nhân thân xấu: có một tiền án nên thuộc trường hợp có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Trung Đ có thành khẩn khai báo, người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, tự nguyện nộp số tiền 4.066.000đ (bốn triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) khắc phục hậu quả, tự thú hành vi phạm tội ngày 16 tháng 8 năm 2024 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, q, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.

- Đối với bị cáo Đinh Tiến Đ1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 3 lần nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Đ1 thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp số tiền 4.065.000đ (bốn triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) khắc phục hậu quả, đầu thú thừa nhận hành vi phạm tội, gia đình có ông cố Đinh Văn H3 là liệt sĩ và bà cố Phạm Thị L1 là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến, tự thú hành vi phạm tội ngày 16 tháng 8 năm 2024 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đ1.

- Đối với bị cáo Nguyễn Tiến M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 2 lần nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. So với bị cáo Đ, bị cáo Đ1 thì bị cáo M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ít hơn một lần nên hình phạt nhẹ hơn bị cáo Đ và bị cáo Đ1. Bị cáo Nguyễn Tiến M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp số tiền 4.000.000₫ (bốn triệu đồng) khắc phục hậu quả, đầu thú thừa nhận hành vi phạm tội, gia đình có bà nội Trần Thị Đ5 là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo M.

[5] Cáo trạng xác định: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ và quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu gồm: 128,2 kg dây điện cho bà Nguyễn Thị Út B; 01 xe mô tô biển số 62P2-470.90 cho bà Bùi Thị Thùy L; 01 điện thoại di động hiệu Redme cho bị cáo Nguyễn Trung Đ; 01 đôi dép, 01 điện thoại di động hiệu Vivo cùng sim số 0583133702, số tiền 1.914.920 đồng cho bị cáo Nguyễn Tiến M; 01 nón bảo hiểm, 01 điện thoại di động Samsung sim số 0382496392, 01 kiềm bằng kim loại, 01 dao bằng kim loại, 01 ná thun bằng gỗ, 02 ống điếu (tiếp khóa) bằng kim loại cho bị cáo Đinh Tiến Đ1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 71B2-754.71 của bà Trần Thị Thanh K là mẹ ruột bị cáo Đinh Tiến Đ1 mua lại của người khác nhưng chưa sang tên, bà K cho bà Đoàn Ngọc Bảo N1 là vợ của bị cáo Đinh Tiến Đ1 để đi làm công nhân, ngày 16 tháng 8 năm 2024 bị cáo Đ1 tự ý lấy xe đi trộm, bà K, bà N1 không biết nên cần trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

[7] Đối với xe mô tô biển số 62K1-651.56 của bị cáo Đinh Tiến Đ1 mua trên mạng, không có giấy tờ, bị cáo dùng xe nêu trên vào việc phạm tội. Qua giám định không rõ nguồn gốc nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với bình xịt hơi cay bị cáo Đ đem theo nhằm mục đích sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 đèn pin, 01 kiềm của bị cáo Đinh Tiến Đ1 đã dùng vào việc phạm tội nhưng sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đ1 đã làm rớt mất nên không thu giữ được nên không đặt ra xem xét.

Cáo trạng xác định: Đồ vật, tài liệu không liên quan đến vụ án và chưa xác định được chủ sở hữu gồm: 01 xe mô tô biển số 62AA-002.08; 03 cuộn dây điện trọng lượng 9,9 kg đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[8] Về phần trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Út B đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu bồi thường, ông Đặng Hy C1 yêu cầu bồi thường số tiền 3.960.000đ (ba triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng), ông Trần Kim T1 yêu cầu bồi thường số tiền 6.256.080đ (sáu triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn không trăm tám mươi đồng). Các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M nộp tiền bồi thường khắc phục hậu quả tổng cộng là 12.131.000đ (mười hai triệu một trăm ba mươi mốt nghìn đồng), giữa các bị cáo và các bị hại tự nguyện thỏa thuận việc bồi thường. Cơ quan điều tra đã chuyển số tiền nộp khắc phục hậu quả của các bị cáo Đ, Đ1, M để bồi thường và ông C1, ông T1 đã nhận tiền bồi thường theo yêu cầu xong. Còn lại số tiền 1.914.920đ (một triệu chín trăm mười bốn nghìn chín trăm hai mươi đồng), Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến M là phù hợp.

[9] Cáo trạng xác định: Đối với tên Huỳnh Tiến Đ3 (tên thường gọi là Đ3 mắt kiến, Đ4) qua xác minh không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được do đó tách hành vi để xử lý sau là phù hợp. Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra theo quy định chung của pháp luật.

[10] Đối với ông Trần Thanh P cho các bị cáo Nguyễn Tiến M, Đinh Tiến Đ1 mượn xe mô tô biển số 62P2-470.90 để lẫn trốn do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[11] Từ các phân tích nêu trên, Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, mức hình phạt, xử lý tài sản thu giữ, vật chứng là có căn cứ, đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo Đ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Đối với bị cáo Nguyễn Trung Đ:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, các điểm b, q, r, s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Đ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành hình phạt, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 8 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024.

- Đối với bị cáo Đinh Tiến Đ1:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Tiến Đ1 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành hình phạt, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 8 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024.

- Đối với bị cáo Nguyễn Tiến M:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến M 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành hình phạt, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 8 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024.

- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại xe mô tô biển số 71B2-754.71 cho chủ sở hữu là bà Trần Thị Thanh K.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Xe mô tô biển số 62K1-651.56 của bị cáo Đinh Tiến Đ1.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bình xịt hơi cay của bị cáo Nguyễn Trung Đ.

Xe trả cho chủ sở hữu, xe sung vào Ngân sách nhà nước và bình xịt hơi cay tiêu hủy nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý thể hiện tại Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSCT ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An; biên bản giao, nhận vật chứng vụ án ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra thuộc Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Trung Đ, Đinh Tiến Đ1, Nguyễn Tiến M, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Trung Đ, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Nguyễn Thị Út B, ông Đặng Hy C1, ông Trần Thanh P, bà Trần Thị Thu S, bà Bùi Thị Thùy L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An (1b);
  • - VKSND huyện Châu Thành (2b);
  • - Chi cục THA huyện C (1b);
  • - Các bị cáo; các bị hại (1b);
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (1b);
  • - Lưu HS (1b); Lưu VT... (1b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Diệp Song T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Đông cùng đồng phạm " Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger