Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 12/2025/HS - ST

Ngày 06 – 11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Điệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nghĩa; bà Cầm Thị Tươi.

Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thuỳ Linh - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025, đối với:

Bị cáo: Lò T, sinh ngày 08/02/2007 tại xã N, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã N, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T1 và bà Lò Thị A; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2025 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 05 giờ 45 phút ngày 18/7/2025 tổ công tác Công an xã Nậm Ty, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ rà soát, quản lý các đối tượng nghi sử dụng trái phép chất ma tuý tại khu vực bản P, xã N, khi đến nhà Lò T tổ công tác yêu cầu T nếu có đồ vật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật thì giao nộp, khi đó T đã tự giác lấy từ bên trong một vỏ bao thuốc lào đang cầm trên lòng bàn tay phải ra giao nộp 01 lọ nhựa tự chế bên trong có 01 viên nén màu hồng (T khai nhận là Hồng phiến) cùng 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng nêu trên.

2

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La (tổ địa bàn khu vực Sông Mã) thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong cân tịch, trích mẫu giám định vật chứng, kết quả: Cân tách bì 01 viên nén màu hồng thu giữ của Tuân có tổng khối lượng 0,11 gam. Đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu T.

Kết luận giám định số: 820/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

“Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma tuý; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.

Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,11 gam; Loại Methamphetamine”

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận:

Khoảng 16 giờ ngày 17/7/2025, T mang theo số tiền 50.000 đồng (tiền do T lao động tiết kiệm mà có) đi bộ một mình từ nhà đến khu vực bản Co Dâu, xã Nậm Ty, tỉnh Sơn La tìm mua ma tuý sử dụng, tại đây T gặp người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi trên đường hỏi và mua được của người này 02 viên Hồng phiến đựng trong 01 lọ nhựa với giá 50.000 đồng. Khi về đến nhà T lấy 01 viên Hồng phiến ra sử dụng, còn 01 viên T cất lại trong lọ nhựa ban đầu cùng 01 vật lửa ga và 01 mảnh giấy bạc cho vào trong vỏ bao thuốc lào cất giấu tại giường ngủ. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 18/7/2025 khi T đang ở nhà chuẩn bị lấy nốt 01 viên còn lại ra sử dụng thì tổ công tác đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Công an xã Nậm Ty phối hợp với Trạm y tế xã Nậm Ty tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với T, kết quả dương tính với chất ma tuý. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Tuân quá trình điều tra xác định T không thuộc một trong số các trường hợp quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS -KV3 ngày 24 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La đã truy tố bị cáo Lò T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Luật sửa đổi bổ sung một số tiều của Bộ luật hình sự năm 2015 số 86/2025/QH15).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Lò T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 08 tháng tù giam.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng liên quan không có giá trị sử dụng.
  • Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

3

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] Về tài liệu, chứng cứ xác định tội danh:

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 06 giờ 00 phút ngày 18/7/2025 đối với Lò T cùng với vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 820/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 18/7/2025 Lò T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,11 gam ma tuý loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân là đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 truy tố và Toà án nhân dân khu vực 3 – Sơn La xét xử đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có mức hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước,

4

xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Xét thấy tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng gia tăng và phức tạp là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, để ngăn chặn sự lây lan của tệ nạn ma tuý, đảm bảo biện pháp giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian và quyết định một hình phạt tương xứng để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị, không có thu nhập ổn định. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án: 01 vỏ bao thuốc lào; 01 ống lọ nhựa tự chế; 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã Nậm Ty, quá trình điều tra không xác định được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng làm rõ.

Về kết quả dương tính với chất ma tuý trong cơ thể của bị cáo, xác định do bị cáo đã trích ra 01 viên trong số ma tuý mua được ngày 17/7/2025 và sử dụng trái phép. Tuy nhiên theo kết quả điều tra bị cáo không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, nên không cấu thành tội phạm hình sự.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Hình sự bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là dân tộc thiểu số, sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[10] Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

5

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò T 03 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 7 năm 2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lào mặt trước có dòng chữ “CUNG ĐÌNH”, mặt sau có dòng chữ “MẠNH ĐIỆP”; 01 ống lọ nhựa tự chế; 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKS-KV3 ngày 17/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 08 giờ 30 phút ngày 21 tháng 10 năm 2025 giữa Công an tỉnh Sơn La và Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Sơn La.

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò T.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/11/2025)./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 3 – Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 3 – Sơn La;
  • - Thi hành án HS;
  • - PV06 Công an tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hà Thị Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS - ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 12/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger