|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 04-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Ngư; bà Nguyễn Thị Chuyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/ TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Chí T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/01/2003; Nơi cư trú: Xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn T1, Sinh năm 1979; Họ tên mẹ: Đào Thị H, sinh năm 1982. Gia đình có 02 anh, em, Bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2024 đến ngày 30/12/2024, thì được áp dụng thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện đang ở tại xóm T, xã V, huyện P (Có mặt).
- Người bị hại:
- Anh Đào Trung L, sinh năm 2004; Địa chỉ: Xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Anh Đặng Văn V, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Đình Tuấn A, sinh năm 2008; Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện cho cháu Tuấn A: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
- 1. Cháu Nguyễn Tuấn K, sinh năm 2009; địa chỉ: xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
Người đại diện cho cháu T2 K: Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1985. Địa chỉ: xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (là bố đẻ của cháu K. Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Chí T, sinh năm 2003, trú tại xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS 20E1-449.76 của anh Đào Trung L, sinh năm 2004, trú tại xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để bán. Ngày 14/9/2024, T gọi điện thoại cho L, lấy lý do có việc riêng để mượn xe môtô của L, do có quan hệ họ hàng và tin tưởng T nên L đã đồng ý cho T mượn xe. Đến 19 giờ cùng ngày, T đến nhà L lấy xe và nói xong việc sẽ trả xe ngay. Sau khi lấy được xe, T mang xe đến nhà anh Đặng Văn V, sinh năm 1985, trú tại xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thế chấp xe mô tô để vay số tiền 5.000.000 đồng, do không biết xe môtô là do T phạm tội mà có nên anh V đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, không thấy T trả xe, anh L nhắn tin và gọi điện yêu cầu T trả xe, T nhắn cho L “một lúc nữa em về”, sau đó tắt điện thoại để L không liên lạc được. Ngày 16/9/2024, T đăng bán xe môtô nêu trên trên mạng xã hội Facebook, khoảng 30 phút sau thì Nguyễn Đình Tuấn A, sinh năm 2008, trú tại Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, đọc được thông tin bán xe nên đã nhắn tin hỏi T bán xe với giá bao nhiêu, T trả lời “xe có giấy tờ, nhưng mẹ cầm đăng ký, bán 7.000.000 đồng”. Tuấn A trả giá 6.000.000 đồng và hẹn chiều cùng ngày đến mua xe. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Tuấn A đến xem xe, khi đến nơi Tuấn A hỏi T "Xe ở đâu?", T trả lời "Xe đang để ở T". T gọi điện thoại cho anh Đặng Văn V nói với anh V giao xe cho Tuấn A. Sau đó, T nhờ Nguyễn Tuấn K, sinh năm 2009, trú tại xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Là em họ của T) đưa Tuấn A đến nhà anh V lấy xe, do không biết việc T bán xe môtô của L, nên K đồng ý. Khi gặp anh V, Tuấn A đưa cho anh V 5.850.000 đồng, anh V cầm tiền rồi giao xe cho Tuấn A, và đưa lại cho K 850.000 đồng để mang về đưa cho T. Ngày 17/9/2024, anh L nhiều lần nhắn tin, gọi điện cho T yêu cầu T trả xe, T nói cho anh L biết việc T bán chiếc xe nêu trên cho Tuấn A. Ngày 19/9/2024, anh L đến cơ quan Công an trình báo về việc bị T lừa đảo chiếm đoạt xe môtô.
Bản kết luận định giá tài sản số: 1417/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự xác định giá trị của xe môtô BKS: 20E1-449.76 là 12.460.000 đồng.
Ngày 27/9/2024, CQCSĐT Công an huyện P thu hồi được xe môtô nêu trên. Đến ngày 29/11/2024, trả lại cho chủ sở hữu là anh Đào Trung L quản lý, sử dụng. Anh Đào Trung L có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về dân sự: Ngày 13/10/2024, T đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường số tiền 5.850.000 đồng cho Nguyễn Đình Tuấn A. Sau khi nhận được tiền bồi thường, Tuấn A không có yêu cầu hay đề nghị gì.
Quá trình điều tra, Nguyễn Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của T phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10S, màu đen, lắp 01 sim hiển thị số thuê bao 0358972863. Thông tin máy: IMEI 1: 358176104662040, IMEI 2: 358177104662048, tình trạng máy: Hoạt động bình thường, đã cũ, qua sử dụng. Được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu T1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSPL ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Lương đối với bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt chính đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T mức án từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo ấn định thòi gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10S, màu đen, lắp 01 sim hiển thị số thuê bao 0358972863. Thông tin máy: IMEI 1: 358176104662040, IMEI 2: 358177104662048, tình trạng máy: Hoạt động bình thường, đã cũ, qua sử dụng. Được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu T1. Do bị cáo đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả trong vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại nhưng cần tạm giữ để thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.
Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình, thấy ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất có thể để bị cáo có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện P; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tôi của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản sự việc, vật chứng thu giữ và Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Hồi 19 giờ ngày 14/9/2024, do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Chí T đã này sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của anh Đào Trung L. Thực hiện ý đồ trên, bị cáo đã đến nhà anh Đào Trung L, trú tại xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên hỏi mượn xe môtô Honda Wave, màu đen, BKS: 20E1-449.76, (chiếc xe sau đó được Hội đồng định giá xác định có giá trị 12.460.000 đồng). Thể nói xong việc sẽ trả xe ngay. Sau khi mượn được xe, T đưa xe đến nhà anh Đặng Văn V, sinh năm 1985, trú tại xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thế chấp xe để lấy số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 16/9/2024, T bán xe cho Nguyễn Đình Tuấn A, sinh năm 2008, trú tại Tổ A, phường H, TP ., tỉnh Thái Nguyên với giá 5.850.000 đồng. Sau khi có tiền, T đã dùng tiêu xài cá nhân hết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, khi được hỏi: Việc bị cáo nảy sinh ý đồ lừa đảo để chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh L từ khi nào? Thì bị cáo T đều khẳng định là bị cáo có ý định lừa đảo ngay từ ban đầu trước khi anh L giao xe cho T. Bị cáo trình bày thêm lý do anh L giao xe cho T là vì T nói dối anh L là mượn xe để đi có việc, xong việc thì trả luôn, chứ anh L không biết T mượn xe để đi bán hoặc cầm cố lấy tiền.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Chí T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Điều luật như sau:
“Điều 174. Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
2.......”
[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để anh L giao xe mô tô cho bị cáo, rồi dùng xe mô tô cầm cố để vay tiền của anh V, sau đó đăng bán chiếc xe cho Nguyễn Đình Tuấn A chiếm đoạt số tiền 5.850.000 đồng. Bị cáo đã thực hiện hàng loạt hành vi kế tiếp nhau nhằm mục đích cuối cùng là chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh L để bán lấy tiền tiêu. Thực tế bị cáo đã chiếm đoạt được chiếc xe mô tô của anh L và đã bán lấy tiền tiêu. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới quyền sở hữu tài sản của người khác, khách thể được luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó đã cấu thành tội “Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần xử lý kịp thời, nghiêm minh để giáo dục bị cáo cũng là để răn đe phòng ngừa chung.
Trong vụ án này có Đặng Văn V và Nguyễn Đình Tuấn A: Ngày 14/9/2024, anh V nhận thế chấp xe môtô Honda Wave, màu đen, BKS: 20E1-449.76; Ngày 16/9/2024, Tuấn A mua chiếc xe nêu trên từ T, anh V và Tuấn A không biết đây là xe do T phạm tội mà có nên hành vi của anh V và Tuấn A không cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", quy định tại Điều 323 BLHS.
Đối với Nguyễn Tuấn K: K được T thể nhờ đưa Nguyễn Đình Tuấn A và bạn đến lấy xe tại nhà anh Đặng Văn V, sau đó cầm tiền về cho T. Bản thân K không biết việc T lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe của L, không được hưởng lợi ích gì nên không phải là đồng phạm với T trong vụ án.
[5]. Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi thực hiện tội phạm bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả. Lần phạm tội này đối với bị cáo là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện ...bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải”, theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo được bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hơn nữa, tính chất nghiêm trọng của vụ án ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không nhất thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ cần buộc bị cáo cải tạo tại địa phương để đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật mà vẫn đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và vẫn có ý nghĩa dăn đe phòng ngừa chung đối với xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù nhằm chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp, nhưng bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe môtô xe môtô BKS: 20E1-449.76 mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại anh Đào Trung L. Ngày 27/9/2024, CQCSĐT Công an huyện P thu hồi được xe mô tô nêu trên. Đến ngày 29/11/2024, trả lại cho chủ sở hữu là anh Đào Trung L quản lý, sử dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét; Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10S, màu đen, lắp 01 sim hiển thị số thuê bao 0358972863. .., đã cũ, qua sử dụng. Được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu T1. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đây là chiếc điện thoại mà bị cáo đã dùng gọi cho anh L để hỏi mượn xe. Hội đồng xét xử thấy có thể tịch thu, sung quỹ. Tuy nhiên, Trong vụ án này, bị cáo đã khắc phục hoàn toàn thiệt hại đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Kiểm sát viên đề nghị trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho thi hành án là phù hợp, chấp nhận.
Trong hồ sơ vụ án còn có 01 đĩa DVD ghi hình hỏi cung bị cáo Nguyễn Chí T ngày 07/10/2024; 01 USB do anh Đặng Văn V giao nộp. Đây là tài liệu chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
[9]. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Xét đề nghị của Kiểm sát viên trong lời luận tội về tội danh, về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, về án phí và vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ pháp luật: Điều: 326; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 9 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo .
- Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự. Buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 04 tháng 3 năm 2025 cho đến khi chấp hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Chí T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A10S, màu đen, lắp 01 sim hiển thị số thuê bao 0358972863. Thông tin máy: IMEI 1: 358176104662040, IMEI 2: 358177104662048, tình trạng máy: Hoạt động bình thường, đã cũ, qua sử dụng. Được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu T1, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Giao bị cáo Nguyễn Chí T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Xuân Trà |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí Thể lừa đảo chiếm đoạt tài sản
