| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| TỈNH GIA LAI | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-PT | |
| Ngày 18-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng
Ông Nguyễn Văn Sinh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên và ông Phan Hòa Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 28/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Hoàng Nam Đ và Trần Xuân H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Hoàng Nam Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08 tháng 01 năm 1984 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Số nhà A T, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nguyên Phó giám đốc Trung tâm Đ4; con ông Hoàng Phương Đ1 và bà Phạm Thị L; có vợ là Trần Lê Hoa M và 02 người con; tiền án, tiền sự: không.
- Trần Xuân H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 11 năm 1971 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi cư trú: Số nhà A N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Trần Đ2 (đã chết) và bà Lâm Thị S; có vợ là Nguyễn Thị H1 và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến ngày 29/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bão lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến ngày 29/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bão lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra còn có bị cáo Cao Anh T không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trung tâm Đ4, thuộc chi nhánh Công ty Cổ phần T4, địa chỉ tại làng P, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai, do ông Nguyễn Viết T1 (sinh năm 1987, nơi đăng ký HKTT: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) làm Giám đốc – là người đại diện theo pháp luật của Công ty; đăng ký kinh doanh lần đầu vào ngày 8/5/2020. Ngày 30/6/2020, Trung tâm Đ4 được Cục Đ5 – Bộ G, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới số 8102D, gồm 01 dây chuyền kiểm định loại I; 02 dây chuyền kiểm định loại II. Các ngày 27/5/2020 và ngày 01/7/2020, ông Nguyễn Viết M1 - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần T4, bổ nhiệm Hoàng Nam Đ và Cao Anh T, làm Đăng kiểm viên bậc cao và làm Phó Giám đốc Trung tâm Đ4. Đến tháng 4/2021 thì T nghỉ việc và đến tháng 12/2022, thì Đàn nghỉ việc tại Trung tâm Đ4.
Theo quy định tại Thông tư số 85/2014/TT-BGTVT ngày 31/12/2014 của Bộ G, quy định về cải tạo phương tiện giao thông đường bộ, quy trình cải tạo xe cơ giới thực hiện theo các bước: Chủ phương tiện có nhu cầu cải tạo xe (lắp thêm mui che hàng trên thùng xe, lắp thêm cần cẩu, lắp đặt cụm chân nâng hạ thủy lực, kích nâng hàng...) thuê đơn vị lập hồ sơ thiết kế xe cơ giới cải tạo (hồ sơ gồm: Bản thuyết minh thiết kế kỹ thuật và bản vẽ kỹ thuật); gửi hồ sơ đến Cục Đ5 hoặc Sở Giao thông vận tải thẩm định và cấp Giấy chứng nhận thẩm định; đưa phương tiện đến thi công cải tạo theo hồ sơ thiết kế được duyệt tại các cơ sở cải tạo có kinh doanh ngành nghề thi công cải tạo, sản xuất, lắp ráp xe cơ giới theo quy định của pháp luật. Khi thi công cải tạo xong, cơ sở thi công cải tạo phải lập biên bản nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới cải tạo, bảng kê hệ thống tổng thành thay thế mới và có văn bản đề nghị kiểm tra chất lượng xe cơ giới cải tạo gửi đến Trung tâm Đ4; sau đó đưa phương tiện đến Trung tâm đăng kiểm để kiểm tra, nghiệm thu cấp Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo, khi đó phương tiện mới đủ điều kiện để lưu thông.
Quá trình thực hiện chuyên môn tại Trung tâm Đ4, Cao Anh T đã liên hệ với Hoàng Xuân T2 (sinh năm 1981, trú tại xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội), là Chuyên viên Phòng kiểm định xe cơ giới - Cục Đ5; Hoàng Nam Đ liên hệ với Bùi Văn L1 (sinh năm 1983, nơi cư trú: Số E, ngõ A đường T, khu tập thể Công ty kinh doanh dụng cụ chỉnh hình Hà Nội, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội), là Phó Giám đốc Công ty T5 và Đặng Minh P (sinh năm 1996, nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình), là Phó Giám đốc Công ty A; trực tiếp và qua trung gian nhận tiền của các chủ phương tiện; sau đó, làm trái quy trình, quy định, như: Đưa phương tiện đi thi công cải tạo trước tại các cơ sở thi công không có giấy phép, rồi mới lập hồ sơ thiết kế (Bản thuyết minh thiết kế kỹ thuật và bản vẽ kỹ thuật) đưa tiền cho cán bộ Cục Đ5 để được cấp Giấy chứng nhận thẩm định hồ sơ thiết kế; hợp thức hoá hồ sơ thi công, cải tạo bằng cách lập biên bản nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới cải tạo khống; văn bản đề nghị kiểm tra chất lượng xe cơ giới cải tạo (thể hiện đơn vị thiết kế đồng thời cũng là đơn vị thi công cải tạo nhưng thực tế không thi công). Mặc dù, biết các phương tiện đã được cải tạo không đúng quy định nhưng Cao Anh T và Hoàng Nam Đ vẫn yêu cầu chủ phương tiện đưa xe đến Trung tâm Đ4 nơi mình đang giữ chức vụ Phó Giám đốc để nghiệm thu xe cơ giới cải tạo, cấp Giấy chứng nhận cải tạo nhằm hưởng lợi số tiền chênh lệch.
Kết quả điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể như sau:
Đối với bị cáo Hoàng Nam Đ:
Trong thời gian từ tháng 06/2021 đến tháng 9/2022, Đ liên hệ với Bùi Văn L1 và Đặng Minh P để trao đổi, thoả thuận về việc làm khống, hợp thức hoá hồ sơ thiết kế xe cơ giới cải tạo. L1 đồng ý nhận hoàn thiện 01 hồ sơ dao động từ 5.000.000 đồng đến 7.100.000 đồng; Đặng Minh P nhận hoàn thiện 01 hồ sơ dao động từ 5.500.000 đồng đến 7.500.000 đồng (tuỳ thuộc vào nội dung cải tạo); L1 cung cấp số tài khoản: 0021000423352 tên Bùi Văn L1, mở tại Ngân hàng V; P cung cấp số tài khoản: 0011004351158 tên Đặng Minh P, mở tại Ngân hàng V, để Đ chuyển tiền thanh toán tiền làm hồ sơ cải tạo. Trong thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2022, Hoàng Nam Đ đã nhận 66 hồ sơ cải tạo xe cơ giới (trong đó, nhận của Trần Xuân H 14 phương tiện) của 42 cá nhân, chủ phương tiện với tổng số tiền 478.600.000 đồng (hình thức nhận chuyển khoản và nhận tiền mặt); Đ nhận từ khâu làm hồ sơ thiết kế đến kiểm tra nghiệm thu, cấp Giấy chứng nhận cải tạo đảm bảo lưu hành; toàn bộ chi phí Đàn thu dao động từ 5.500.000 đồng đến 10.000.000 đồng/1 hồ sơ (tùy từng loại xe, nội dung cải tạo, thời điểm, mối quan hệ); hình thức cải tạo xe như: Cải tạo từ xe ô tô tự đổ (xe ben) thành xe ô tô thùng mui phủ; xe ô tải mui phủ thành ô tô tải có cần cẩu ...). Đàn yêu cầu cá nhân hoặc chủ phương tiện cung cấp thông tin, giấy tờ đăng ký, đăng kiểm xe, thẻ căn cước hoặc chứng minh nhân dân của chủ xe, thông số kỹ thuật, kích thước, hình ảnh chụp phương tiện, nội dung cải tạo. Sau khi đã có các thông tin về phương tiện, Đàn gửi cho Bùi Văn L1 20 hồ sơ và chuyển khoản số tiền 102.600.000 đồng (một trăm lẻ hai triệu sáu trăm nghìn đồng); gửi cho Đặng Minh P 46 hồ sơ thiết kế, cải tạo xe cơ giới và chuyển khoản 279.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi chín triệu đồng) để Công ty T5 và Công ty A hợp thức hoá hồ sơ thiết kế, cải tạo xe cơ giới khống. Đặng Minh P nhận được hồ sơ và tiền thì P liên hệ và thuê Nguyễn Đức T3 (sinh năm 1992, nơi cư trú: Số D đường T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội), là Phó giám đốc Công ty H2, làm 14 hồ sơ cải tạo, nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới cho Đ với số tiền 4.000.000 đồng/1 hồ sơ. Sau đó, T3 gửi hồ sơ lại cho P. Khi Đặng Minh P, Bùi Văn L1 hợp thức xong hồ sơ thiết kế, được Cục Đ5 cấp Giấy chứng nhận thẩm định thì gửi hồ sơ qua đường Bưu điện cho Đàn. Đàn nhận hồ sơ rồi đưa cho cá nhân hoặc chủ phương tiện mang xe đi cải tạo theo đúng kích thước trong hồ sơ thiết kế, cũng có những trường hợp khách hàng đã mang xe đi cải tạo trước khi nhận được hồ sơ từ Đàn. Sau khi cải tạo xong và có hồ sơ thiết kế thì đưa phương tiện đến Trung tâm Đ4 kiểm tra, nghiệm thu xe cơ giới sau cải tạo và cấp Giấy chứng nhận cải tạo. Trong tổng số tiền 478.600.000 đồng mà Đ đã nhận của các chủ phương tiện, Đ đã chuyển cho Bùi Văn L1 và Đặng Minh P với tổng số tiền 381.600.000 đồng (ba trăm tám mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng); số còn lại, Đ sử dụng 29.237.092 đồng (hai mươi chín triệu hai trăm ba mươi bảy nghìn không trăm chín mươi hai đồng) để đóng các loại tiền phí nghiệm thu cải tạo, phí kiểm định, phí đường bộ giúp cho khách hàng; còn 67.762.908 đồng (sáu mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám đồng), Đ hưởng lợi cá nhân.
Đối với bị cáo Cao Anh T:
Trong khoảng thời gian từ tháng 07/2020 đến tháng 04/2021, Cao Anh T liên hệ với Hoàng Xuân T2 để trao đổi, thoả thuận về việc làm khống, hợp thức hoá hồ sơ thiết kế xe cơ giới cải tạo, T2 đồng ý nhận hoàn thiện 01 hồ sơ thu từ 6.000.000 đồng đến 6.500.000 đồng, yêu cầu T chuyển hồ sơ cho Công ty A do Lã Thu C (sinh năm 1972, trú tại: Số B, ngách B đường N, Tổ dân phố C, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội), làm Giám đốc; đồng thời T2 đưa số tài khoản 0340156668899, mở tại M2 của T2 và tài khoản của Lã Thu C số 81164932, mở tại Ngân hàng V1, để T chuyển tiền thanh toán mua khống hồ sơ. Khi cá nhân liên hệ với T để làm hồ sơ cải tạo xe cơ giới thì T nhận làm hồ sơ cải tạo từ khâu làm hồ sơ thiết kế đến kiểm tra nghiệm thu, cấp Giấy chứng nhận cải tạo đảm bảo lưu hành; chi phí T thu dao động từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (tùy từng loại xe, thời điểm, mối quan hệ); hình thức cải tạo xe: Cải tạo xe ô tô tải thùng lửng thành xe ô tô tải có bồn chở mủ cao su; xe ô tải tự đổ thành ô tô tải thùng; xe ô tải thành ô tô tải cẩu...). Đối với những xe cơ giới đã thi công cải tạo từ trước thì T yêu cầu cung cấp các giấy tờ (như đăng ký, đăng kiểm xe, thẻ căn cước hoặc chứng minh nhân dân của chủ xe), thông số kỹ thuật, kích thước, ảnh chụp phương tiện sau cải tạo; cũng có trường hợp T trực tiếp đến đo kích thước và chụp ảnh phương tiện sau cải tạo rồi gửi cho T2 qua ứng dụng Zalo. Đối với xe cơ giới chưa thi công cải tạo thì T hướng dẫn cho các chủ phương tiện tự thi công cải tạo, khi cải tạo xong thì gửi thông tin, giấy tờ đăng ký, đăng kiểm xe, thẻ căn cước hoặc chứng minh nhân dân của chủ xe, thông số kỹ thuật, kích thước, ảnh chụp phương tiện sau cải tạo cho T; cũng có trường hợp T trực tiếp đến đo kích thước và chụp ảnh phương tiện sau cải tạo rồi gửi cho T2 qua Z. Sau khi T2 hợp thức xong hồ sơ thiết kế, được Cục Đ5 cấp Giấy chứng nhận thẩm định xe cơ giới sau cải tạo thì T2 sẽ gửi hồ sơ qua đường Bưu điện hoặc qua ô tô khách đến Trung tâm Đ4, đồng thời thông báo cho T để T thông báo lại cho các chủ phương tiện đưa xe đến Trung tâm Đ4 kiểm tra, nghiệm thu và cấp Giấy chứng nhận cải tạo. Trong khoảng thời gian từ tháng 07/2020 đến tháng 04/2021, Cao Anh T đã nhận 26 phương tiện xe cơ giới của 13 cá nhân, chủ phương tiện với tổng số tiền 197.980.000 đồng (hình thức chuyển khoản và nhận tiền mặt). Sau đó, T chuyển tiền cho Hoàng Xuân T2 và Lã Thu C, để hợp thức hoá hồ sơ thiết kế, hồ sơ thi công cải tạo. Tổng số tiền 197.980.000 đồng mà T đã nhận của các cá nhân, chủ phương tiện, T chuyển khoản cho Hoàng Xuân T2 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng); chuyển khoản cho Chiền 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng); nộp phí nghiệm thu cho 08 xe của Công ty P1 là 4.880.000 đồng (bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng); trả lại cho Công ty P1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Số tiền còn lại 11.100.000 đồng (mười một triệu một trăm nghìn đồng), T hưởng lợi cá nhân.
Đối với bị cáo Trần Xuân H:
Trần Xuân H là đối tượng làm dịch vụ đăng kiểm, thường xuyên có mặt tại các Trung tâm Đăng kiểm trên địa bàn thành phố P để liên hệ với Đăng kiểm viên khám phương tiện, làm hồ sơ cải tạo xe cơ giới nên quen biết Hoàng Nam Đ3 – Phó Giám đốc Trung tâm Đ4- 02D. H gặp Đ để liên hệ làm khống, hợp thức hồ sơ thiết kế, cải tạo cho xe cơ giới khi các cá nhân hoặc chủ phương tiện có nhu cầu, Đ đồng ý và nói với H hồ sơ cải tạo chỉ cần cung cấp thông tin, giấy tờ đăng ký, đăng kiểm xe, thẻ căn cước hoặc chứng minh nhân dân của chủ xe, thông số kỹ thuật, kích thước, hình ảnh chụp phương tiện, nội dung cải tạo; Đàn sẽ làm các thủ tục, hồ sơ thiết kế, hồ sơ cải tạo và đóng phí nghiệm thu cải tạo, phí kiểm định cho khách hàng, Đ đưa ra giá tiền dao động từ 8.500.000 đồng đến 10.000.000 đồng/01 hồ sơ (tuỳ thuộc vào nội dung cải tạo). Sau khi có hồ sơ thì Đ đưa cho H để H đưa cho các cá nhân hoặc chủ phương tiện đem phương tiện đi cải tạo theo bản vẽ mà không cần phải đến Cơ sở thi công trong hồ sơ (có thể tự cải tạo hoặc mang xe đến cơ sở cơ khí nào cải tạo tuỳ ý). Sau khi thi công xong thì đem phương tiện đến Trung tâm Đ4 kiểm tra, tiến hành nghiệm thu cải tạo xe cơ giới để cấp Giấy chứng nhận cải tạo.
Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2022, Trần Xuân H đã nhận 14 phương tiện xe cơ giới của 05 cá nhân, chủ phương tiện, với tổng số tiền 142.400.000 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) bằng hình thức nhận chuyển khoản và nhận tiền mặt. Sau đó, H dùng tài khoản số 62110000742618 mở tại Ngân hàng B chuyển tiền cho Hoàng Nam Đ để làm khống, hợp thức hồ sơ thiết kế, hồ sơ thi công cải tạo, kiểm tra, nghiệm thu cấp Giấy chứng nhận cải tạo trái quy định; đóng các loại tiền phí giúp khách hàng. Số tiền 142.400.000 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng), H đã chuyển khoản cho Hoàng Nam Đ 134.600.000 đồng (một trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), trong đó: 122.000.000 đồng (một trăm hai mươi hai triệu đồng) để làm khống, hợp thức hồ sơ thiết kế, hồ sơ cải tạo cho 14 phương tiện; 12.600.000 đồng (mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng) để nhờ Đ đóng các loại phí giúp cho các cá nhân hoặc chủ phương tiện; sử dụng 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) để mua vật liệu thi công cải tạo cho 01 phương tiện xe cơ giới. Số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) còn lại, H hưởng lợi cá nhân.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng:
- Thu giữ của Trần Xuân H: 02 (hai) túi đựng hồ sơ, bên trong có nhiều giấy tờ phô tô và 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 5s, màu trắng, mặt sau điện thoại có hình trái táo bị khuyết và chữ “iPhone”, đã qua sử dụng và 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), do bà Nguyễn Thị H1 (vợ của H) giao nộp.
- Thu giữ của Hoàng Nam Đ: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Samsung A30 màu xanh dương, mặt sau điện thoại in hình chữ SAMSUNG đã qua sử dụng và 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), do bà Trần Lê Hoa M (vợ của Đ) giao nộp.
- Thu giữ của Cao Anh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA mặt trước màu đen có phím bấm, mặt sau màu bạc, hai viền trên dưới mặt sau màu đen, bên trong có gắn sim Viettel có số seri 8984-04800-09143-02621, đã qua sử dụng và 195.000.000 đồng (một trăm chín mươi làm triệu đồng), do bà Trần Thị Lê N (vợ của T) giao nộp.
- Thu giữ tại Trung tâm Đ4, gồm: 01 (một) USB hiệu SanDisk màu đen dung lượng 16 GB được trích xuất từ máy tính tại Phòng Nghiệp vụ, tại Trung tâm Đ4 - Chi nhánh Công ty T4 trên phần mềm “Quản lý kiểm định phương tiện
CGĐB 9.17 sử dụng tại 8102D” lưu dữ liệu kiểm định và danh sách xe cải tạo từ năm 2018 đến năm 2022 và 152 (một trăm năm hai) bộ hồ sơ thiết kế, thi công cải tạo do Trung tâm Đ4 nghiệm thu, cấp Giấy chứng nhận cải tạo từ năm 2018 đến năm 2022.
* Xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, quá trình điều tra, xác định:
Đối với 152 (một trăm năm hai) bộ hồ sơ thiết kế, thi công cải tạo do Trung tâm Đ4 nghiệm thu, cấp Giấy chứng nhận cải tạo từ năm 2018 đến năm 2022, qua điều tra xác định có dấu hiệu vi phạm trong việc lập hồ sơ thiết kế, thi công cải tạo xe cơ giới khống, rồi tiến hành nghiệm thu, cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của các xe cơ giới này không tuân thủ theo quy định của pháp luật. Trong đó: 92 (chín mươi hai) hồ sơ đã làm rõ hành vi lập khống của Hoàng Nam Đ và Cao Anh T (Đàn 66 hồ sơ; Tuấn 26 hồ sơ); còn lại 60 (sáu mươi) hồ sơ thuộc các trường hợp: Lái xe hoặc chủ xe không nhớ đưa tiền cho ai, không phải là người thực hiện việc cải tạo, chủ xe tự liên hệ với công ty T6 hoặc không có mặt tại địa phương. Quá trình nghiệm thu, kiểm định chỉ đóng các khoản phí theo quy định, không đưa tiền để thỏa thuận bỏ qua lỗi hay phải chi các khoản phí bồi dưỡng khác trong quá trình nghiệm thu cải tạo tại Trung tâm Đ4. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tách, chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an các địa phương, để tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật, cụ thể:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H: 74 (bảy mươi bốn) hồ sơ của Công ty TNHH A; 10 (mười) hồ sơ của Công ty cổ phần D (địa chỉ: P, tòa nhà T, CC2 B, phường Đ, Quận H, Thành phố Hà Nội).
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P: 16 (mười sáu) hồ sơ của Công ty TNHH T6 (địa chỉ: Số A, ngõ F, đường P, phường P, Quận N, Thành phố Hà Nội).
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V: 01 (một) hồ sơ của Công ty TNHH MTV Đ6 (địa chỉ: Khu tập thể V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc).
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N: 20 (hai mươi) hồ sơ của Công ty TNHH T5 (địa chỉ: Số nhà E, ngõ A T, phường Y, Quận C, Thành phố Hà Nội); 14 (mười bốn) hồ sơ của Công ty TNHH H2 (địa chỉ: Số A, ngõ A đường M, phường M, Quận N, Thành phố Hà Nội) và 01 (một) hồ sơ của Công ty TNHH T7 (địa chỉ: Số nhà D, ngách B, tổ D, phố V, phường V, Quận H, Thành phố Hà Nội).
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T: 16 (mười sáu) hồ sơ của Công ty cổ phần T8 (địa chỉ: Tầng F, số C T, phường D, Quận C, Thành phố Hà Nội).
Đối với 02 (hai) túi đựng hồ sơ, bên trong có nhiều giấy tờ phô tô và 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 5s, màu trắng, mặt sau điện thoại có hình trái táo bị khuyết và chữ “iPhone”, đã thu giữ của Trần Xuân H; điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Samsung A30 màu xanh dương, mặt sau điện thoại in hình chữ SAMSUNG đã thu giữ của Hoàng Nam Đ và điện thoại di động hiệu NOKIA mặt trước màu đen có phím bấm, mặt sau màu bạc, hai viền trên dưới mặt sau màu đen, bên trong có gắn sim Viettel có số seri
8984-04800-09143-02621 đã thu giữ của Cao Anh T, đều không có thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã xử lý trả lại cho bị cáo Trần Xuân H, Hoàng Nam Đ và Cao Anh T.
Đối với 01 (một) USB hiệu SanDisk màu đen và 152 (một trăm năm hai) bộ hồ sơ thiết kế, thi công cải tạo do Trung tâm Đ4 nghiệm thu, cấp Giấy chứng nhận cải tạo từ năm 2018 đến năm 2022, là tài liệu chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P lưu vào hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 195.000.000 đồng (một trăm chín mươi lăm triệu đồng) đã thu giữ của bị cáo Cao Anh T; 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) đã thu giữ của Hoàng Nam Đ và 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đã thu giữ của Trần xuân H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chuyển theo hồ sơ vụ án để lý.
Đối với số tiền nhận hối lộ 162.000.000 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu đồng) mà bị cáo Cao Anh T đã chuyển cho Hoàng Xuân T2 và Lã Thu C; Hoàng Nam Đ chuyển cho Bùi Văn L1 số tiền 102.600.000 đồng (một trăm lẻ hai triệu sáu trăm nghìn đồng) và chuyển Đặng Minh P số tiền 279.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi chín triệu đồng), đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
1. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Nam Đ phạm tội “Nhận hối lộ”; bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Môi giới hối lộ”.
- - Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 354; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Hoàng Nam Đ
- Xử phạt bị cáo Hoàng Nam Đ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam trước đây (từ ngày 03/10/2023 đến ngày 29/01/2024).
- - Áp dụng điểm e, g khoản 2 Điều 365; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Xuân H
- Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam trước đây (từ ngày 03/10/2023 đến ngày 29/01/2023).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt của bị cáo Cao Anh T, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
2. Kháng cáo của các bị cáo:
Các ngày 02, 03/4/2025, các bị cáo Hoàng Nam Đ và Trần Xuân H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
3. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Hoàng Nam Đ vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin hoãn phiên toà. Bị cáo Trần Xuân H rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; điểm a, đ khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Xuân H và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Nam Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hoàng Nam Đ:
- [3] Về kháng cáo của bị cáo Hoàng Nam Đ:
- [4] Về án phí: Bị cáo Trần Xuân H rút kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Đối với bị cáo Hoàng Nam Đ do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Đối với việc rút kháng cáo của bị cáo Trần Xuân H: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, Hội đồng xét xử đã giải thích cho bị cáo về hậu quả của việc rút kháng cáo. Bị cáo giữ nguyên ý kiến nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.
Đối với việc vắng mặt của bị cáo Hoàng Nam Đ: Ngày 16/6/2025, bị cáo Hoàng Nam Đ gửi đơn xin hoãn phiên tòa vì lí do vợ bị cáo đang mang thai, sức khoẻ yếu, con bị cáo còn nhỏ, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, trong thời gian này bị cáo phải đưa vợ đi thăm khám nên không thể đến phiên toà ngày 18/6/2025.
Tài liệu kèm theo gồm 01 bản photocoppy giấy ra viện, 01 bản tóm tắt hồ sơ bệnh án ngày 13/5/2025 thể hiện vào viện ngày 09/5/2025, ra viện ngày 11/5/2025, Bệnh viện Đ7; Hồ sơ khám bệnh tại Bệnh viện H3 ngày 09/6/2025. Người khám, điều trị là Trần Lê Hoa M, vợ bị cáo. Ngoài ra không có tài liệu nào chứng minh vào ngày xét xử 18/6/2025 bị cáo bận công việc gì. Cho thấy lý do xin hoãn phiên toà của bị cáo là không chính đáng.
Ngoài ra, đơn kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nên việc vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc xem xét kháng cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
Theo nội dung bản án sơ thẩm thì bị cáo Hoàng Nam Đ là Phó Giám đốc Trung tâm Đ4, từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2022, bị cáo đã nhận 478.600.000 đồng của 42 cá nhân để làm khống 66 hồ sơ thiết kế, thi công cải tạo xe cơ giới, hưởng lợi 67.762.908 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Nhận hối lộ” theo điểm c, đ khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không kháng cáo về tội danh và điều luật áp dụng nên phần này đã có hiệu lực pháp luật.
Xét bị cáo nhận hối lộ số tiền 478.600.000 đồng của nhiều cá nhân, bị truy tố theo khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử bị cáo mức án 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù là đã khoan hồng. Nay không phát sinh tình tiết giảm nhẹ gì mới nên cấp phúc thẩm không có căn cứ giảm hình phạt
cho bị cáo. Bên cạnh đó, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và với mức hình phạt như trên thì không thuộc trường hợp được cho hưởng án treo.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 342 và điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 354; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Hoàng Nam Đ 3 (ba) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam trước đây (từ ngày 03/10/2023 đến ngày 29/01/2024).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Xuân H.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Nam Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
Bị cáo Hoàng Nam Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Kim Hồng |
Bản án số 12/2025/HS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về vụ án hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 12/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025
