Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-6-2025

V/v: không công nhận quan hệ vợ chồng, con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thanh Nhàn và Bà Nguyễn Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn, Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: Ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án (tầng 2), trụ sở Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 53/2025/TLST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “không công nhận quan hệ vợ chồng, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lê Thị H, sinh năm 1987; nơi đăng ký thường trú: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: số nhà C, ngõ I Đ, khu G, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: anh Vũ Đình Q, sinh năm 1970; nơi đăng ký thường trú: thôn D, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: số nhà C, ngõ I Đ, khu G, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt lần 02 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Chị Lê Thị H và anh Vũ Đình Q chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chỉ về ở với nhau tại khu G, phường H, thành phố M, lý do không đăng ký kết hôn là do là cả chị và anh Q đều đã đổ vỡ trong hôn nhân một lần. Quá trình chung sống, chị và anh Q thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh Q không chịu làm ăn, không quan tâm đến gia đình dẫn đến cãi vã, đánh chửi nhau. Hiện tại chị và anh Q đã ly thân về mặt tình cảm, việc ai người đấy làm, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Vũ Đình Q. Về con chung: chị và anh Q có 01 con chung là Lê Thị Thùy L, sinh ngày 22/08/2020, chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: tại đơn khởi kiện chị yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng. Về khoản nợ chung: cả hai không vay, nợ chung bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Vũ Đình Q; anh Q biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án giữa anh và chị Lê Thị H nhưng anh Q không nhận bất cứ văn bản tố tụng nào, không đến Tòa án làm việc và tham gia các phiên họp do Tòa án ấn định. Nội dung từ chối nhận các văn bản tố tụng và không tham gia tố tụng của anh Q đã được Tòa án lập các biên bản lưu hồ sơ đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình xác minh tại địa phương thể hiện: chị Lê Thị H, sinh năm 1987 và anh Vũ Đình Q, sinh năm 1970 chung sống với nhau như vợ chồng tại số nhà C, ngõ I, Đ, khu G, phường H, thành phố M từ năm 2017 cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương. Quá trình chung sống anh Q và chị H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, đánh chửi nhau. Về con chung: anh chị có 01 con chung.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp các chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm: Căn cước công dân (01 bản sao); đơn xin xác nhận (01 bản chính); văn bản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (01 bản photo); giấy đặt cọc (01 photo); sao kê tài khoản ngân hàng (01 bản chính); giấy khai sinh (01 bản sao); vận đơn (01 bản photo); Biên lai thu tiền tạm ứng án phí (01 bản chính).

Bị đơn Vũ Đình Q mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không có bất kỳ ý kiến hoặc quan điểm về việc giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được, nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử nghị án:
    • + Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
    • + Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về đường lối giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị H và anh Vũ Đình Q; giao con chung Lê Thị Thùy L (sinh ngày 22/8/2020) cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, chị H và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở; đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn chị Lê Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn anh Vũ Đình Q và giải quyết việc nuôi con chung. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Vũ Đình Q cư trú tại thành phố M, nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[1.2]. Về xác định tư cách tố tụng và việc tham gia phiên tòa của Viện Kiểm sát cùng cấp:

chị Lê Thị H là người làm đơn khởi kiện nên có tư cách tố tụng là nguyên đơn; anh Vũ Đình Q là người bị nguyên đơn khởi kiện nên có tư cách tố tụng là bị đơn. Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Vụ án do Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh Q tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017. Các đương sự có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Do đó, mặc dù thực tế cả hai cả hai chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng không được pháp luật công nhận và bảo vệ, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn Lê Thị H với bị đơn Vũ Đình Q là có căn cứ.

[2.2]. Về con chung:

các đương sự có 01 con chung là Lê Thị Thùy L, sinh ngày 22/08/2020, nguyên đơn có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Vũ Đình Q không hợp tác, không đến Toà án làm việc, không có ý kiến gì về việc nuôi con. Xét thấy con chung còn nhỏ, hiện vẫn đang được chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị H có đủ các điều kiện nuôi con chung, nên nguyện vọng của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về tài sản chung: tại đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 08/5/2025 nguyên đơn chị Lê Thị H yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của chị và anh Q. Ngày 21/5/2025, nguyên đơn rút yêu cầu; tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm rút yêu cầu chia tài sản chung với bị đơn. Xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung của đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật. Căn cứ vào Điều 5, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

[4]. Về khoản nợ chung: nguyên đơn trình bày cả hai không vay nợ bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào trong thời gian chung sống, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đề cập.

[5] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn đối với yêu cầu chia tài sản chung.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Lê Thị H.

  • - Về quan hệ hôn nhân: tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị H và anh Vũ Đình Q.
  • - Về con chung: giao con chung là Lê Thị Thùy L, sinh ngày 22/08/2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Vũ Đình Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; trên cơ sở lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị Lê Thị H và anh Vũ Đình Q. Đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để yêu cầu chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: nguyên đơn là chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.100.000 đồng (mười một triệu một trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0002401 ngày 05/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái. Trả lại cho chị H số tiền 10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND TP. Móng Cái;
  • - Chi cục THADS TP. Móng Cái;
  • - Đương sự;
  • - Án văn + Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Vũ Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về không công nhận quan hệ vợ chồng, con chung

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: không công nhận quan hệ vợ chồng, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu không công nhận quan hệ vợi chồng, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger