|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày 29-5-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thanh Giản
Bà Tạ Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 35/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Nguyệt L; nơi cư trú: Số I Lô B, tổ B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Đức T; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lý Nguyệt L trình bày:
Bà với ông Phạm Đức T xây dựng gia đình trên tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1984 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hợp nhau, không tin tưởng nhau trong kinh tế và tình cảm, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng căng thẳng nên khoảng giữa năm 2024 ông T đã đến nhà con gái lớn sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Bà L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc T1, sinh ngày 05-6-1985 và Phạm Thị Thanh N, sinh năm 29-8-1987, hai con đều đã trưởng thành và có gia đình riêng, có thể tự lo cho cuộc sống nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, ông T trình bày quan điểm: Ông đồng ý tòa án nhân dân quận Dương Kinh giải quyết ly hôn; vợ chồng có mâu thuẫn, bà L làm đơn xin ly hôn quan điểm là ông đồng ý ly hôn; về con chung như bà L trình bày, hai con đều đã trưởng thành, có thể tự lo cho cuộc sống nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung ông không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng và nơi cư trú của bị đơn tại gia đình và chính quyền địa phương nơi ông T và bà L sinh sống thể hiện ông bà chung sống với nhau từ năm 1984 nhưng không đăng ký kết hôn. Khi còn chung sống, vợ chồng ông T và bà L sinh sống ở phường T, quận H, nhưng ông T không đăng ký thường trú, tạm trú tại phường T, quận H và ông T cũng không thực hiện việc đăng ký thường trú, tạm trú tại tại bất cứ địa phương nào. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, khoảng giữa năm 2024 thì ông T về nhà con gái lớn là chị Phạm Thị Ngọc T1 ở phường H, quận D sinh sống từ đó đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và chính quyền đã hòa giải nhiều lần nhưng không được.
Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nhưng trong các sổ lưu trữ đều không có tên ông Phạm Đức T và bà Lý Nguyệt L đăng ký kết hôn.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà L được ly hôn ông T. Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không phải giải quyết. Về tài sản chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Bà Lý Nguyệt L được miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Lý Nguyệt L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận Dương Kinh giải quyết việc ly hôn, ông T hiện đang sinh sống tại phường H, quận D, thành phố Hải Phòng nên theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
- Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Bà L và ông T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, về chung sống với nhau trước sự chứng kiến của gia đình họ hàng hai bên và hàng xóm năm 1984; nhưng không đăng ký kết hôn, Tòa án tiến hành thu thập tài liệu tại chính quyền đều xác nhận trong sổ lưu trữ đăng ký kết hôn không có tên ông Phạm Đức T và bà Lý Nguyệt L. Như vậy, xác định ông T và bà L không đăng ký kết hôn nhưng quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc sinh được hai con chung, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn căng thẳng nên ông bà đã sống ly thân mỗi người một nơi từ giữa năm 2024 đến đến nay. Tòa án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương và gia đình xác định: Bà L và ông T xảy ra mâu thuẫn, hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, bà L và ông T đã sống ly thân. Mặt khác, ông T có quan điểm đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án nhân dân quận Dương Kinh giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tòa án đã thông báo hòa giải nhưng ông T vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế, đủ cơ sở xác định hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của bà L về việc xin ly hôn ông T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc T1, sinh ngày 05-6-1985 và Phạm Thị Thanh N, sinh năm 29-8-1987. Các con đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, ông bà không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, tuy nhiên nguyên đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 207, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Nguyệt L được ly hôn ông Nguyễn Đức T2.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Lý Nguyệt L được miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Dung |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý NGuyệt L - Phạm Đức T
