|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/02/2025
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong
Các hội thẩm nhân dân:Bà Lài Thị Thu Hà
Ông Nguyễn Thái Duy
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 350/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2014 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lưu Thị L, sinh năm: 1986; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm: 1976; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Lưu Thị H1:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ngô Văn H xây dựng gia đình với nhau năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 13/01/2005. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được; đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên chửi bới, đánh đập bà và ông H có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Hiện nay ông H thường xuyên đánh đập bà, nên bà đã chuyển ra ngoài để ở trọ; bà xác định không còn tình cảm với ông H. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Văn H.
Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 03 con chung là Ngô Thị Yến V, sinh ngày 02/9/2006; Ngô Quang T, sinh ngày 21/11/2008 và Ngô Quang M, sinh ngày 19/10/2014. Hiện nay cháu V đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, bà yêu cầu giao cháu M cho bà và giao cháu T cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà L không còn yêu cầu gì khác.
Theo lời trình bày của bị đơn ông Ngô Văn H:
Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng năm 2005, ông và bà Lưu Thị L về chung sống với nhau như vợ chồng, xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại tổ dân phố C (nay là tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng). Quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu diễn ra hòa thuận, hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Sau đó mâu thuẫn trở nên nghiêm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng nhiều lần xảy ra cãi vã, xích mích. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng đều không được. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được, ông xác định không còn tình cảm với bà L. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc như mong muốn, tiếp tục kéo dài chỉ khiến cả hai mệt mỏi, ảnh hưởng lớn đến con cái nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.
Về con chung: Ông xác định vợ chồng có 03 con chung là Ngô Thị Yến V, sinh ngày 02/9/2006; Ngô Quang T, sinh ngày 21/11/2008 và Ngô Quang M, sinh ngày 19/10/2014. Hiện nay cháu V đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, ông yêu cầu giao cháu M cho bà L và giao cháu T cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông xác định vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông xác định vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lưu Thị L. Giao con chung Ngô Quang M, sinh ngày 19/10/2014 cho bà Lưu Thị L và giao con chung Ngô Quang T, sinh ngày 21/11/2008 cho ông Ngô Văn H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con chung. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lưu Thị L, bị đơn ông Ngô Văn H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Thị L và ông Ngô Văn H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2005, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 13/01/2005. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân của bà L và ông H là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà L khởi kiện ly hôn.
Xét thấy, vợ chồng bà L, ông H phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân và không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H cũng xác định không còn tình cảm với bà L nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.
Do quan hệ hôn nhân giữa bà L với ông H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, giải quyết cho bà L và ông H được ly hôn là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà Lưu Thị L và ông Ngô Văn H có 03 con chung là Ngô Thị Yến V, sinh ngày 02/9/2006; Ngô Quang T, sinh ngày 21/11/2008 và Ngô Quang M, sinh ngày 19/10/2014. Hiện nay cháu V đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L yêu cầu giao cháu M cho bà và giao cháu T cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con thì ông H đồng ý.
Xét thấy, hiện nay cháu M đang ở với bà L, cháu T đang ở với ông H. Do đó, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục và nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của cháu, nên cần giao cháu M cho bà L và giao cháu T cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con chung là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Lưu Thị L và ông Ngô Văn H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Bà Lưu Thị L và ông Ngô Văn H xác định không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Buộc bà Lưu Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn ly hôn của bà Lưu Thị L, xử cho bà Lưu Thị L và ông Ngô Văn H được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung Ngô Quang M, sinh ngày 19/10/2014 cho bà Lưu Thị L và giao con chung Ngô Quang T, sinh ngày 21/11/2008 cho ông Ngô Văn H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con chung. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Buộc bà Lưu Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp theo biên lai thu số 0005129 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Bà Lưu Thị L đã nộp đủ án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lài Thị Thu Hà – Nguyễn Thái Duy |
Phạm Phước Minh Phong |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phước Minh Phong |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Lưu Thị L và bị đơn anh Ngô Văn H
