Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 23 - 6 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Tiến Hùng và bà Bùi Thị Lành.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoà - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QĐ-ST ngày 06/6/2025, giữa:

* Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Hồng T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn S (nay là tổ dân phố S), xã N (nay là phường T), huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị Tạ Thị Hồng T để giao, nhận tài liệu, văn bản tố tụng của Toà án: Anh Lê Tiến Đ; địa chỉ: Số C ngõ A, đường N, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Tạ Văn C, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT: Tổ A (nay là tổ F), phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Anh C hiện nay đang ở Đài Loan (Trung Quốc), không rõ địa chỉ cụ thể; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tạ Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Tạ Thị Hồng T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Chung kết H1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam vào ngày 02/4/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được ba người con chung, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T và anh C bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, bản thân anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Vì vậy, chị T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị T xác định chị và anh C có ba con chung là cháu Tạ Minh H2, sinh ngày 13/12/2012; cháu Tạ Quang H3, sinh ngày 02/10/2016 và cháu Tạ Bảo L, sinh ngày 12/01/2018. Hiện nay các cháu đang ở với ông Tạ Văn T1 và bà Nguyễn Thị H, tại tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam (là bố mẹ đẻ của anh C). Nguyện vọng của các cháu được ở với chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả ba cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T đề nghị anh Tạ Văn C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi ba con chung cùng chị với số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H2, cháu H3 và cháu L đủ 18 tuổi trưởng thành và tự lập được.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 25/10/2024 và ngày 21/5/2025, bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh C, anh C và chị T lấy nhau có đăng ký kết hôn và sinh được ba người con chung như chị T trình bày là đúng và hiện cả ba cháu đang ở cùng bà. Nay chị T xin ly hôn với anh C bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với việc chị T đề nghị giao cả ba cháu H2, cháu H3 và cháu L cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, bà đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của chị T.

Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam tiến hành công khai tài liệu chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng chị T và anh C vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hướng giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử ly hôn giữa chị Tạ Thị Hồng T và anh Tạ Văn C. Về con chung: Giao các cháu Tạ Minh H2, sinh ngày 13/12/2012; cháu Tạ Quang H3, sinh ngày 02/10/2016 và cháu Tạ Bảo L, sinh ngày 12/01/2018 cho chị Tạ Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và tự lập được, anh C có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T với số tiền 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 6/2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Tạ Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng. Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh C phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Hồng T về ly hôn, tranh chấp nuôi con, do anh C đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Lê Tiến Đ; địa chỉ: Số C ngõ A, đường N, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội là người đại diện theo uỷ quyền của chị Tạ Thị Hồng T để giao, nhận tài liệu, văn bản tố tụng của Toà án. Do nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên toà, chị T, bà H và ông T1 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Chung kết H1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam vào ngày 02/4/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được ba người con chung. Quá trình chung sống về sau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T và anh C bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, bản thân anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T yêu cầu Toà án xử cho chị được ly hôn với anh C, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T.

[3] Về con chung: Chị T xác định chị và anh C có ba con chung là cháu Tạ Minh H2, sinh ngày 13/12/2012; cháu Tạ Quang H3, sinh ngày 02/10/2016 và cháu Tạ Bảo L, sinh ngày 12/01/2018. Hiện nay các cháu đang ở với gia đình ông Tạ Văn T1 và bà Nguyễn Thị H, tại tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam (là bố mẹ đẻ của anh C). Do anh C đang làm việc ở nước ngoài khi ly hôn chị T đề nghị Toà án giao cả ba cháu cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị cam đoan không cản trở anh C thăm nom, chăm sóc, giáo dục các cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng nguyện vọng của chị T là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T đề nghị anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với ba cháu H2, cháu H3 và cháu L với số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành và tự lập được. Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về tài sản chung và các vấn đề khác: Vợ chồng anh chị không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Những vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí:

  • - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Tạ Thị Hồng T phải chịu theo quy định của pháp luật.
  • - Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Tạ Văn C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐT ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử ly hôn giữa chị Tạ Thị Hồng T và anh Tạ Văn C.
  2. Về con chung: Giao các cháu Tạ Minh H2, sinh ngày 13/12/2012; cháu Tạ Quang H3, sinh ngày 02/10/2016 và cháu Tạ Bảo L, sinh ngày 12/01/2018 cho chị Tạ Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và tự lập được, anh Tạ Văn C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Tạ Thị Hồng T mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 6/2025.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí:
  • - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Tạ Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002065 ngày 31/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam được đối trừ khi thi hành án.
  • - Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Tạ Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm chị Tạ Thị Hồng T, bà Nguyễn Thị H và ông Tạ Văn T1 vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Tạ Văn C vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - UBND phường Tân Tựu;
  • - UBND phường Tân Hiệp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T và anh Chung kết H1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam vào ngày 02/4/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được ba người con chung. Quá trình chung sống về sau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T và anh C bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, b
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger