TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-01-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng, ông Nguyễn Tất Thể
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 220/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 01/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Hồng A, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Dương Anh S, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Hiện nay anh S đang lao động tại Đài Loan, nhưng không có địa chỉ cụ thể.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Đinh Thị Hồng A bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Hồng A và anh Dương Anh S qua quá trình tự tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh ngày 16/12/2014.
Sau khi kết hôn chị A và anh Sơn S1 hạnh phúc. Năm 2022 anh S đi lao động tại Đài Loan, thời gian đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, quan tâm nhau. Nhưng kể từ cuối năm 2023 đến nay vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thiếu sự tôn trọng, quan tâm, chia sẻ, không còn tin tưởng, tình cảm giành cho nhau phai nhạt. Đến nay vợ chồng đã không còn tiếng nói chung, không thể hàn gắn được những mâu thuẫn. Nay chị A nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị A được ly hôn với anh S.
- Về con chung: Chị Đinh Thị Hồng A và anh Dương Anh S có 02 con chung tên Dương Ngọc B, sinh ngày 24/02/2019 và Dương Ngọc Bảo A1, sinh ngày 07/01/2017. Khi ly hôn chị A có nguyện vọng giao 02 con chung cho anh Dương Anh S nuôi dưỡng, chị A tự nguyện cấp dưỡng 1.000.000 đồng/01 con/tháng thời gian cấp dưỡng từ khi Bản án/ Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật đến khi 02 con đủ 18 tuổi.
+ Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Dương Anh S do đang lao động tại nước ngoài nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/12/2024 và ngày 05/12/2024, Toà án đã tiến hành lấy lời khai của bà Lê Thị Y; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ đẻ của anh Dương Anh S. Qua quá trình làm việc bà Y cho biết các thông tin về vụ án bà đã gửi cho anh S biết và anh đã nắm bắt được đầy đủ thông tin. Đồng thời Toà án đã lập biên bản cuộc gọi trực tuyến có hình ảnh đến anh Dương Anh S. Thông qua người thân và ý kiến qua cuộc gọi trực tuyến, anh S có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Anh S đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị A
- Về con chung: Anh S và chị A có 02 con chung tên Dương Ngọc B, sinh ngày 24/02/2019 và Dương Ngọc Bảo A1, sinh ngày 07/01/2017. Khi ly hôn anh S có nguyện vọng nuôi 02 con chung. Tuy nhiên do anh S đang ở nước ngoài nên nhờ mẹ ruột anh S là bà Lê Thị Y; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc con chung đến khi anh S về nước. Anh S không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Hiện tại, do đang làm việc ở nước ngoài nên anh S không thể về tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án và anh S không cung cấp được địa chỉ của anh tại nước ngoài cho Toà án. Đồng thời anh S nhờ bà Y giao nhận các văn bản của Toà án gửi cho anh S để bà Y thông tin lại cho anh S biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83 Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị Hồng A được ly hôn anh Dương Anh S.
- Về con chung: Giao cháu Dương Ngọc B, sinh ngày 24/02/ 2019 và Dương Ngọc Bảo A1, sinh ngày 07 /01/ 2017 cho anh Dương Anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên trong thời gian anh S chưa về nước tạm thời giao cháu B và cháu A1 cho mẹ ruột của anh Dương Anh S là bà Lê Thị Y; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc đến khi anh S về nước. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của chị Đinh Thị Hồng A. Chị A được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Đinh Thị Hồng A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật,
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Dương Anh S hiện đang lao động tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tại văn bản số 1291/QLXNC- Đ1 ngày 12/12/2024 của Phòng Q Công an tỉnh H thể hiện: Anh Dương Anh S, sinh năm 1983; địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 16/5/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản lấy lời khai ngày 03/12/2024 và ngày 05/12/2024 và thông qua cuộc gọi kết nối trực tuyến bằng hình ảnh có lập biên bản ngày 05/12/2024 kết nối với anh Dương Anh S. Người thân và anh S không cung cấp được địa chỉ của anh S tại nước ngoài. Toà án đã đăng thông tin vụ án trên trang thông tin của người Việt Nam tại nước ngoài theo quy định pháp luật nhưng không nhận được phản hồi của bị đơn. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Đinh Thị Hồng A và bị đơn anh Dương Anh S theo quy định.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị A và anh S tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện K cấp ngày 16/12/2014 nên hôn nhân giữa chị A và anh S là hôn nhân hợp pháp. Chị A cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do, thiếu sự tôn trọng, quan tâm, chia sẻ, không còn tin tưởng, tình cảm giành cho nhau phai nhạt. Đến nay vợ chồng đã không còn tiếng nói chung, không thể hàn gắn được những mâu thuẫn.
Chị A và anh S là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị A và anh S xảy ra mâu thuẫn, chị A và anh S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị A được ly hôn với anh S.
[2.2] Về con chung: Chị A và anh S có 02 con chung là Dương Ngọc B, sinh ngày 24 /02 /2019 và Dương Ngọc Bảo A1, sinh ngày 07/01/2017. Để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu cần giao cháu B và cháu A1 cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên trong thời gian anh S chưa về nước tạm thời giao cháu B và cháu A1 cho mẹ ruột anh S là bà Lê Thị Y; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh S về nước. Ngoài ra mẹ anh S có ý kiến tự nguyện nuôi các cháu.
Chị A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/01 con/tháng thời gian cấp dưỡng từ khi Bản án/ Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật đến khi 02 con đủ 18 tuổi. Xét đề nghị cấp dưỡng của chị A là tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của chị A.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điểu 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57,58, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Hồng A, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Hồng A được ly hôn anh Dương Anh S.
2. Về con chung:
Giao cháu Dương Ngọc B, sinh ngày 24 /02 /2019 và Dương Ngọc Bảo A1, sinh ngày 07/01/2017 cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/01 con/tháng thời gian cấp dưỡng từ khi Bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật đến khi 02 con đủ 18 tuổi.
Anh S và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho chị A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở chị A thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Đinh Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000180 ngày 15/11/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Chị Đinh Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hà Ngân |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đinh Thị Hồng A và anh Dương Anh S qua quá trình tự tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh ngày 16/12/2014. Sau khi kết hôn chị A và anh Sơn S1 hạnh phú