TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 12/2025/HNGĐ- ST Ngày 19/06/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA- THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Ngọc Trung và bà Phạm Thị Nghị
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Dụ - Kiểm sát viên;
Vào ngày 19 tháng 06 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 05 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Phạm Thị B - Sinh năm: 1996.
HKTT: Bản Chiềng, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09/06/2025).
-Bị đơn: Anh Phạm Bá C - Sinh năm: 1989.
HKTT: Bản Chiềng, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị B1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Bá C kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng kí kết hôn vào ngày 30/10/2015 tại UBND xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại xã B, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa được một thời gian. Tuy nhiên, từ cuối năm 2021 thì tình cảm vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, chị B1 xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị B đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Bá C.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm Khánh H - Sinh ngày 13/02/2017, hiện cháu đang ở cùng với chị B. Nay ly hôn, chị B có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Vợ chồng tự thoả thuận về phần cấp dưỡng nuôi con chung, không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai và tại phiên toà bị đơn anh Phạm Bá C trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị B đăng kí kết hôn vào ngày 30/10/2015 tại UBND xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Tuy nhiên vợ chồng cũng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có vài bất đồng ý kiến trong hôn nhân. Ngoài ra vợ chồng đi làm cách xa nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2023. Mặc dù sống ly thân nhưng anh C vẫn còn tình cảm với chị B và mong muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm Khánh H - Sinh ngày 13/02/2017. Trong trường hợp ly hôn, anh C tôn trọng nguyện vọng của cháu H, cháu muốn ở với ai anh cũng đều nhất trí. Anh không có ý kiến gì về phần cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Phạm Bá C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị B đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Chị B đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 227, điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị B.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh, ghi nhận ý kiến của Trưởng bản Chiềng và UBND xã P như sau:
* Về hôn nhân: Chị B và anh C đăng ký kết hôn từ năm 2015 tại UBND xã P. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống hạnh phúc tại Bản C, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên đến cuối năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ đi làm ăn xa nên dẫn đến không đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị B được ly hôn anh C. Về con chung: Giao cháu Phạm Khánh H - Sinh ngày 13/02/2017 cho chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Các đương sự tự thoả thuận về phần cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét. Về tài sản và công nợ chung: Chị B và anh C không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị B phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị B và anh Phạm Bá C đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, đăng kí kết hôn vào ngày 30/10/2015 tại UBND xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình chung sống đến cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau. Chị B đi làm xa nên tình cảm ngày càng phai nhạt xa cách. Vì những lẽ đó, từ cuối năm 2022 vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Việc này đã được T bản Chiềng và chính quyền địa phương và xác nhận, phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của Toà án. Tuy anh C mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng từ khi vợ chồng ly thân anh C không đưa ra được giải pháp cụ thể gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình làm việc, chị B1 đề nghị không tiến hành hoà giải đoàn tụ vợ chồng do mâu thuẫn qúa lớn, không thể hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Phạm Thị B được ly hôn anh Phạm Bá C để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.
[2] Về con chung: Chị B và anh C1 có 01 con chung tên là Phạm Khánh H - Sinh ngày 13/02/2017. Nay ly hôn, chị B có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nuôi cháu H cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi), anh C tôn trọng nguyện vọng của cháu H, cháu muốn ở cùng ai anh cũng đều nhất trí. Xét hoàn cảnh thực tế, cháu H còn nhỏ, rất cần bàn tay chăm sóc của người mẹ, cháu H có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị B, giao cháu H cho chị B1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Các đương sự tự thoả thuận về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, không đề nghị Toà án giải quyết nên miễn xét.
[3] Về tài sản và công nợ: Chị B và anh C không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
[4] Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Khoản 4 Điều 207, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị B được ly hôn anh Phạm Bá C.
Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Khánh H - Sinh ngày 13/02/2017 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên.
Anh Phạm Bá C có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Án phí: Chị B phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/24/0002362 ngày 12/05/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị B đã thi hành xong khoản án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị B, có mặt anh C. Anh Phạm Bá C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Phạm Thị B có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Nguyễn Văn Mừng Vi N Trung | Phạm Văn Hùng |
Bản án số 12/2025/HNGĐ- ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
