|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18/02/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Công
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Phương My;
- Ông Phan Cảnh Quyện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa: Ông Hồ Vũ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền (Số A N, thị trấn S, huyện Q, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị G, sinh năm 1989
Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H.
Địa chỉ liên hệ: Đường Đ, TDP U, thị trấn S, huyện Q, thành phố H Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1983
Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Đặng Thị G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn M và chị Đặng Thị G tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 18/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, thành phố H (cũ là tỉnh Thừa Thiên Huế). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ anh M.
Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh M thường xuyên đánh đập vợ con, nhậu nhẹt, bài bạc và không lo làm ăn. Đến năm 2022, do mẫu thuẫn nên chị G bỏ ra ngoài thuê nhà để buôn bán và sinh sống cùng 02 con tại đường Đ, TDP U, thị trấn S, huyện Q, thành phố H và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn liên lạc với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị G yêu cầu được ly hôn với anh M.
Về con chung: Chị Đặng Thị G xác nhận vợ chồng có 03 con chung tên là Phạm Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 19/5/2011; Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/8/2015; Phạm Bảo H1, sinh ngày 09/8/2015. Các con chung đều có nguyện được ở với chị G. Chị G yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị Đặng Thị G xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập, Quyết định hoãn phiên tòa để anh M đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh M vẫn vắng mặt nên Tòa án không có lời khai.
Ý kiến của chính quyền địa phương do Tòa án thu thập được: Anh Phạm Văn M và chị Đặng Thị G có đăng ký kết hôn ngày 18/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, thành phố H (cũ là tỉnh Thừa Thiên Huế). Trong quá trình chung sống anh M và chị G rất khép kín nên địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa hai vợ chồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, các bên đương sự đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326 về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị G, cho chị G được ly hôn anh M. Giao 03 con chung Phạm Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 19/5/2011; Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/8/2015; Phạm Bảo H1, sinh ngày 09/8/2015 cho chị Đặng Thị G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên, anh Phạm Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn M và chị Đặng Thị G chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng chị G, anh M có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị G trình bày là do anh M thường xuyên đánh đập vợ con, nhậu nhẹt, bài bạc và không lo làm ăn. Chị G, anh M không còn chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay, giữa vợ chồng không quan tâm, chăm sóc đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng anh M không đến Tòa án làm việc đã chứng tỏ anh M có thái độ bỏ mặc, không tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị G vẫn kiên quyết ly hôn với anh M.
Như vậy, xét thấy vợ chồng chị G, anh M mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G, cho chị G được ly hôn với anh M là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tại phiên tòa.
[2] Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị G, anh M có 03 con chung tên là Phạm Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 19/5/2011; Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/8/2015; Phạm Bảo H1, sinh ngày 09/8/2015, hiện 02 cháu Ngọc H và Bảo H1 đang được chị G nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án chị G vẫn không thay đổi ý kiến về việc nuôi con, con chung có nguyện vọng ở với mẹ và để ổn định cuộc sống, học tập của con chưa thành niên nên cần thiết phải giao 03 cháu Quỳnh A, Ngọc H và Bảo H1 cho chị G nuôi dưỡng là đúng quy định pháp luật. Chị G có đủ thu nhập ổn định để nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Đặng Thị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí giải quyết ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị G, cho chị Đặng Thị G được ly hôn với anh Phạm Văn M; quan hệ hôn nhân chấm dứt, kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 03 cháu Phạm Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 19/5/2011; Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/8/2015; Phạm Bảo H1, sinh ngày 09/8/2015 cho chị Đặng Thị G trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Anh Phạm Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Đặng Thị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí giải quyết ly hôn; được khấu trừ hết vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000682 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Công |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
