|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14-4-2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- 2. Bà Lê Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chung- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 345/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025;
+ Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu N, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số H đường Â, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị vắng mặt.
+ Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số nhà E Quốc lộ B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 13/8/2024 và những lời trình bày của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu N thể hiện như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà N1 và ông Nguyễn Thanh P có thời gian quen biết nhau từ nhỏ do gia đình hai bên ở gần nhau, đến khoảng năm 2021 qua mai mối nên hai người quen biết và tìm hiểu nhau khoảng 02 tháng thì đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận kết hôn số 55/2022 ngày 16/5/2022. Việc chung sống là tự nguyện nhưng không tổ chức lễ cưới.
Sau khi kết hôn ông P thường xuyên uống rượu, đến tối lại bật nhạc rất to làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bà N1 và nhiều người xung quanh, không chăm sóc, hỏi han hay phụ giúp bà N1 các công việc trong gia đình. Về kinh tế gia đình giữa bà N1 và ông P cũng không chung kinh tế nên thu nhập của ai người ấy tiêu. Vợ chồng không có tiếng nói chung, ít khi nói chuyện hay chia sẻ các công việc, ông P vẫn thường xuyên liên hệ với những người phụ nữ khác, bà N1 đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông P không phản ứng gì. Có lúc mâu thuẫn trầm trọng bà N1 cũng đã mấy lần bỏ về nhà riêng một thời gian nhưng sau khi suy nghĩ lại nên bà N1 cũng cho ông P cơ hội sửa chữa bản thân vì đây là lần thứ hai kết hôn nên bà N1 cũng không muốn lại phải ly hôn, nhưng bà N1 nhận thấy thấy ông P không thay đổi.
Nay bà N1 nhận thấy không còn tình cảm với ông P, không chung mục đích sống, không mang lại hạnh phúc cho nhau nên đã sống ly thân từ tháng 07/2024 cho đến nay. Ông P có xuống nhà bà N1 khoảng 2-3 lần nhưng không nói gì chỉ ngồi hút thuốc xong rồi về vì vậy bà N1 đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông P.
- - Về con chung: Bà N1 và ông P không có con chung.
- - Về tài sản chung: Bà N1 trình bày không có tài sản chung.
- - Về nợ chung: Bà N1 cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh P không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Nguyên đơn bà N1 có đơn đề nghị vắng mặt.
- - Bị đơn ông Nguyễn Thanh P không có mặt mặc dù đã được Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- - Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà N1 về việc ly hôn với ông Nguyễn Thanh P, về con chung không có, tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến;
- - Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp vềhôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Thanh P cư trú tại xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Thanh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu N và ông Nguyễn Thanh P chung sống với nhau từ năm 2022, việc chung sống là tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ngày 16/5/2022. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Bà N1 cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông P thường xuyên uống rượu, đêm đến lại bật nhạc rất to làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bà N1 và hàng xóm xung quanh, ông P cũng không có sự quan tâm, không phụ giúp bà N1 các công việc trong gia đình, vợ chồng không chung kinh tế, không có tiếng nói chung, bà N1 đã nhiều lần bỏ về nhà riêng, ông P cũng qua 2-3 lần tìm gặp bà N1 nhưng không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ tháng 07/2024 bà N1 và ông P đã sống ly thân mỗi người ở một nơi, không ai liên lạc gì với nhau.
Do bà N1 không còn tình cảm gì với ông P, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn không thể hàn gắn vì vậy bà N1 yêu cầu được ly hôn với ông P.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông P nhiều lần để tác động, hòa giải nhưng ông P vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, qua xác minh tại chính quyền địa phương thì thấy rằng giữa bà N1, ông P có xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng tranh cãi nên bà N1 và ông P không còn chung sống cùng nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N1 và ông P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, xử cho bà N1 và ông P được ly hôn là có cơ sở và đúng pháp luật.
[3.2].Về con chung: Qua lời thừa nhận của bà N1 và chứng cứ do bà N1 cung cấp, căn cứ biên bản xác minh của chính quyền địa phương xác định bà Phạm Thị Thu N và ông Nguyễn Thanh P không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyệt xác định không có. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu N đối với ông Nguyễn Thanh P.
Cho bà Phạm Thị Thu N ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
- Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà N đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006001 ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hạnh Lê Thị Thanh Nhàn |
Lê Thị Hòa |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hòa |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu ly hôn với ông P
