Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/02/2025

V/v tranh chấp ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Minh Tân;
  2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Vinh;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 383/2024/TLST- HNGĐ, ngày 02/12/2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST – HN ngày 15/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thùy L, sinh năm 1993.
  2. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn: anh Huỳnh Ngọc L1, sinh năm 1977.
  4. Địa chỉ: Số A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và tại phiên hoà giải nguyên đơn chị Ngô Thị Thùy L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh L1 quen biết nhau do mai mối, sau đó cả hai quyết định tiến tới hôn nhân, được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2010 và chung sống với nhau đến năm 2011 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi chung sống vợ chồng sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đặc biệt về kinh tế, do anh L1 không chịu đi làm, chị L phải đi làm một mình để có thu nhập lo cho cả gia đình, nên từ đó ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của chị, anh L1 lại không thể sẽ chia về tâm tư, cảm xúc của chị dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh L1 cũng bỏ mặc việc chị L nhiều lần đề cập đến vấn đề ly hôn, nên tình cảm chị L dành cho anh L1 không còn, nên chị đã bỏ đi nơi khác sinh sống từ tháng 9/2024, từ đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong khoảng thời gian sống ly thân, mặc dù anh L1 có động viên chị để về chung sống đoàn tụ, nhưng chị Linh cảm T không thể chung sống với anh L1 được nữa nên không đồng ý.

Hiện nay tình cảm không còn nên chị Ngô Thị Thùy L yêu cầu ly hôn với chị Huỳnh Ngọc L1.

- Về con chung: Chị L và anh L1 chung sống với nhau có được 02 người con chung tên Huỳnh Thủy T1, sinh ngày 26/11/2011 và Huỳnh Mỹ Tiên sinh ngày 30/6/2014 (các con hiện đang sống với anh L1). Hiện nay chị L phải đi làm xa, không đủ điều kiện nuôi con nên chị L giao 02 con cho anh L1 nuôi dưỡng chăm sóc sau khi ly hôn, chị L không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi lời khai, Biên bản hoà giải, anh Huỳnh Ngọc L1 trình bày:

Thời gian chung sống như chị L trình bày là đúng, vợ chồng anh chị do mai mối tiến tới hôn nhân, có tổ chức cưới, chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2011. Vợ chồng chung sống với nhau ban đầu hạnh phúc, nhưng đến tháng 9/2024 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về kinh tế, do trước đây vợ chồng có đi làm ở công ty nhưng do anh L1 muốn làm gần nhà để có thời gian chăm sóc gia đình nên đã xin nghỉ làm công ty, thời gian anh L1 chưa có việc làm khác thì chỉ còn chị L đi làm để có thu nhập, dẫn đến vợ chồng cũng thường cự cải, sau đó chị L bỏ đi từ tháng 9/2024 cho đến nay. Thời gian sống ly thân anh L1 cũng động viên chị trở về chung sống trở lại nhưng chị L không đồng ý.

Hiện nay anh L1 vẫn còn tình cảm với chị L nên chị L yêu cầu ly hôn thì anh Nguyễn Ngọc L2 không đồng ý.

- Về con chung: anh L2 và chị L có 02 con chung tên Huỳnh Thủy Tiên sinh ngày 26/11/2011 và Huỳnh Mỹ Tiên sinh ngày 30/6/2014 (các con hiện đang sống với anh L2). Nếu trường hợp Toà án cho anh chị ly hôn thì anh L2 đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, anh L2 không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: anh L2 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: thẩm phán đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký: Tại phiên toà Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không đến phiên tòa là chưa chấp hành theo điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Thùy L được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc L1. Về con chung: Giao 02 con chung tên Huỳnh Thủy Tiên sinh ngày 26/11/2011 và Huỳnh Mỹ Tiên sinh ngày 30/6/2014 cho anh L1 tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, (các con hiện đang sống với anh L1). Về cấp dưỡng nuôi con: do anh L1 không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung, tài sản chung: do đương sự trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Chị Ngô Thị Thùy L yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Ngọc L1 là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh L1 cư trú tại xã H, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Huỳnh Ngọc L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên anh L1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt anh L1.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Ngô Thị Thùy L và anh Huỳnh Ngọc L1 chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được pháp luật công nhận hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Nguyên nhân chính dẫn đến hôn nhân đỗ vỡ phát sinh từ mâu thuẩn kinh tế, vợ chồng không thể đồng cảm, chia sẽ nhau về cuộc sống hôn nhân, dẫn đến cả hai không còn tiếng nói chung, thường xuyên cải vã, bất đồng trong quan điểm sống, đời sống hôn nhân không thể thể hoà thuận với với nhau nên dần cuộc sống vợ chồng mất đi hạnh phúc, nên chị L và anh L1 sống ly thân từ năm tháng 9/2024 cho đến nay. Chị L không còn tình cảm với anh L1 nên yêu cầu được ly hôn. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, để đạt được mục đích đó vợ chồng chung sống với nhau phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy với nhau. Trong thời gian chung sống, chị L, anh L1 có nhiều mâu thuẩn về kinh tế, thường xuyên cự cải nên cả hai không còn chung sống với nhau từ đầu tháng 9/2024 cho đến nay. Thời gian sống ly thân mặc dù anh L1 có cố gắng để hàn gắn tình cảm, nhưng chị L không đồng ý quay về chung sống, điều đó chứng tỏ rằng giữa chị L và anh L1 có mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị L yêu cầu ly hôn với anh L1 là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc L1.

[2.2] Về con chung:

chị L và anh L1 có 02 con chung tên Huỳnh Thủy T1, sinh ngày 26/11/2011 và Huỳnh Mỹ T2, sinh ngày 30/6/2014 (các con hiện đang sống với anh L1). Hiện nay chị L đang đi làm xa, không đủ điều kiện và thời gian để bên con, chăm sóc nuôi dưỡng các con, nên chị L giao 02 con cho anh L1 nuôi dưỡng chăm sóc sau khi ly hôn, chị L không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ lúc chị L và anh L1 sống ly thân thì các con chung do anh L1 chăm sóc nuôi dưỡng. Cuộc sống của các cháu đã ổn định, anh L1 chăm sóc các cháu tốt và vẫn đảm bảo việc học của các cháu, nguyện vọng của cháu Huỳnh Thủy T1 và Huỳnh Mỹ T2 cũng muốn sống cùng với anh L1, anh L1 cũng đồng ý nuôi các con chung, cũng không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi, và sự phát triển bình thường của các cháu, nên giao cháu Huỳnh Thủy Tiên S ngày 26/11/2011 và Huỳnh Mỹ Tiên S1 ngày 30/6/2014 cho anh L1 nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp. Do anh L1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

chị L và anh L1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điềơu 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội. chị Ngô Thị Thùy L phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Ngô Thị Thùy L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy L được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc L1.
  2. Về con chung: Giao hai con chung là Huỳnh Thủy Tiên sinh ngày 26/11/2011 và Huỳnh Mỹ Tiên sinh ngày 30/6/2014 cho anh Huỳnh Ngọc L1 chăm sóc nuôi dưỡng sau khi ly hôn (các con hiện đang sống với anh L1). Anh L1 không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
  3. Chị Ngô Thị Thùy L có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: chị L và anh L1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Tòa án không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Ngô Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp ngày 02/12/2024 theo biên lai số 0013813 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành được chuyển thành án phí chị L phải nộp.

5. Nguyên đơn chị Ngô Thị Thùy L, bị đơn anh Huỳnh Ngọc L1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKS nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành;
  • - UBND xã Hoà Tân
  • số 41/2011 ngày 01/4/2011;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Lâm Hoàng Huynh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger