Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH G

Số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày 13-6-2025

“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nay Lu Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Siu Thun Phrâo;

2. Ông Chu Xuân Toàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy-Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện C, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Siu Ch, sinh năm 1993; CCCD số [...],
  2. Địa chỉ: Làng Sur A, xã Ia Ko, huyện Chư Sê, tỉnh G. Có mặt.

  3. Bị đơn: Anh Ksor W, sinh năm 1989; CCCD số [...],
  4. Địa chỉ: Thôn Plei Tong Will, thị trấn Nhơn Hòa, huyện C, tỉnh G. Vắng mặt.

  5. Người phiên dịch tiếng Jrai: Bà H'Bing Buôn Yă. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết xét xử vụ án nguyên đơn chị Siu Ch trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Ksor W qua thời gian tìm hiểu được hai bên gia đình đồng ý, anh chị tự nguyện tổ chức đám cưới và có đăng ký kêt hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Ko, huyện Chư Sê, tỉnh G vào ngày 23/10/2019. Cuộc sống vợ chồng sau khi kết hôn hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Ksor W không chăm lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời và chửi mắng chị. Cuộc sống vợ chồng từ đây không còn hạnh phúc. Chị cảm thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay, chị sinh sống ở làng Sur A, xã Ia Ko, huyện Chư Sê còn anh Ksor W về nhà bố mẹ đẻ của anh tại Plei Tong Will, thị trấn Nhơn Hòa, huyện C để sinh sống. Do đó, chị đề nghị quý Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ksor W.

Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là cháu Siu Ploang, sinh ngày 25/4/2020 (nam),

Hiện nay cháu Siu Ploang đang sống cùng với chị nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng con chung là Siu Ploang. Chị không yêu cầu anh Ksor W cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Siu Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Ksor W: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Ksor W đều vắng mặt không có lý do. Anh Ksor W nhận các văn bản tố tụng nhưng không đồng ý ký vào các Biên bản tống đạt văn bản tố tụng vì lý do anh không đồng ý ly hôn với chị Siu Ch. Tại phiên toà hôm nay, anh Ksor W tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngày 12/3/2025, nguyên đơn là chị Siu Ch có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn anh Ksor W và nộp kèm các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, hợp pháp. Xét hình thức nội dung đơn khởi kiện của chị Siu Ch đúng quy định, anh Ksor W có nơi cư trú tại thôn Plei Tong Will, thị trấn Nhơn Hòa, huyện C, tỉnh G nên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn là anh Ksor W vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Siu Ch và anh Ksor W tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Ko, huyện Chư Sê, tỉnh G vào ngày 23/10/2019, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống đến giữa năm 2020, vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Ksor W không chăm lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời và chửi mắng chị Siu Ch. Chị Siu Ch và anh Ksor W đã sông ly thân từ tháng 10/2024 mà không còn liên hệ về tình cảm với nhau nữa. Do anh Ksor W không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh Ksor W đối với yêu cầu khởi kiện của chị Siu Ch và cũng không thể làm rõ những mâu thuẫn trong hôn nhân của anh chị có đúng như lời trình bày của chị Siu Ch hay không. Việc anh Ksor W vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm, không có ý thức hàn gắn những mâu thuẫn hôn nhân giữa anh và chị Siu Ch.

Xét mâu thuẫn hôn nhân giữa chị Siu Ch và anh Ksor W là có thật, mặc dù anh chị là vợ chồng nhưng đã sống ly thân một thời gian dài, mâu thuẫn xảy ra đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Siu Ch, cho chị Siu Ch được ly hôn với anh Ksor W.

[3.2] Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là cháu Siu Ploang, sinh ngày 25/4/2020 (nam).

Hiện tại cháu Siu Ploang đang ở với chị Siu Ch và được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt mặc dù không có sự cấp dưỡng của anh Ksor W; Xét tại phiên tòa chị Siu Ch có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Ksor W cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Ksor W thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc nuôi con chung nhưng anh đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh không quan tâm đến việc nhận nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Vì vậy, áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Siu Ch được nuôi dưỡng con chung là cháu Siu Ploang, sinh ngày 25/4/2020 (nam) là phù hợp.

[3.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Siu Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 28, 35, 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 và 266 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Siu Ch.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Siu Ch được ly hôn với anh Ksor W.
  2. Về con chung: Giao cháu Siu Ploang, sinh ngày 25/4/2020 (nam) cho chị Siu Ch trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Anh Ksor W không phải cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về án phí: Chị Siu Ch phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0006245 ngày 24/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh G. Chị Siu Ch đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (02 bản);
  • - VKSND huyện C (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện C (01 bản);
  • - Toà án nhân dân tỉnh G (01 bản);
  • - UBND xã Ia Ko (01 bản);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01 bản);
  • - Lưu VT (01 bản).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nay Lu Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Siu Ch - Ksor W
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger