Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày 12/3/2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoài Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thanh Hà;

2. Ông Nguyễn Văn Biên.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân An - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Trương Thị T; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ liên hệ: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: anh Lê Bá X; địa chỉ trước lúc xuất cảnh: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Lê Bá M, bà Phan Thị T1; cùng địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 25/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Chị Trương Thị T và anh Lê Bá X đăng ký kết hôn ngày 23/12/2019, tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống với nhau do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Năm 2023 anh X đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan đến nay chưa về, vợ chồng không

liên lạc và không quan tâm đến nhau. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn anh X.

Về con chung: Chị T và anh X có 01 con chung là cháu Lê Thị Mỹ L, sinh 29/4/2018; hiện nay cháu L đang sinh sống với ông bà nội tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên chị T có nguyện vọng giao cho anh X chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L và đồng ý cấp dưỡng cho cháu L 3.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Lê Bá X không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tại Biên bản xác minh ngày 03/02/2025, bà Phan Thị T1, ông Lê Bá M (bố, mẹ đẻ của anh Lê Bá X) cho biết: Anh Xanh và Chị T đăng ký kết hôn năm 2019, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống có 1 con chung là cháu Lê Thị Mỹ L, sinh 29/4/2018. Năm 2023, anh X đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về; gia đình thường xuyên liên lạc với anh X qua mạng facebook nhưng không biết địa chỉ cụ thể của anh X ở đâu. Việc mâu thuẩn tình cảm giữa chị T và X thì gia đình đã hòa giải, khuyên ngăn nhưng chị T đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án nên việc ly hôn do anh, chị tự quyết định. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 và các văn bản tố tụng cho bà Phan Thị T1, bà T1 cam đoan thông báo nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh X biết. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh X.

Đối với nội dung con chung của chị T, anh X: cháu Lê Thị Mỹ L đang sinh sống với ông bà nội (bà Phan Thị T1, ông Lê Bá M) từ nhỏ cho đến nay. Hiện tại anh X đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan chưa về, chị T đang làm việc và sinh sống tại tỉnh Đồng Nai nên bà T1, ông M có nguyện vọng tạm thời chăm sóc cháu L cho đến khi anh X trở về Việt Nam.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:

  • - Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại của BLTTDS. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 73 của BLTTDS; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS;
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238 Bộ luật

Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  • + Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Lê Bá X.
  • + Về con chung: Giao cháu Lê Thị Mỹ L, sinh 29/4/2018 cho anh Lê Bá X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; do anh X hiện đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan chưa trở về nên bà Phan Thị T1, ông Lê Bá M được quyền chăm sóc cháu L cho đến khi anh X trở về Việt Nam.
  • + Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Trương Thị T cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng .
  • - Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • - Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trương Thị T yêu cầu ly hôn với anh Lê Bá X khi anh X đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Trước và sau khi thụ lý vụ án, chị T và gia đình anh X không cung cấp được địa chỉ của anh X tại Đài Loan, phía gia đình của anh X vẫn thường xuyên liên lạc với anh X qua mạng xã hội facbook; gia đình anh X nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và cam đoan thông báo nội dung cho anh X. Đến nay anh X không cung cấp địa chỉ, trực tiếp tham gia tố tụng hoặc có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của chị T nên được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Do đó, cần áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết vụ án theo thủ tục chung được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trương Thị T và anh Lê Bá X trên cơ sở tự nguyện, kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị và được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2023, anh X đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về; không liên lạc, không quan tâm đến chị T. Nay chị T xin ly hôn, anh X không gửi văn bản trình bày ý kiến, cũng như không liên lạc với chị T để trao đổi, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Thấy rằng, hôn nhân là sự tự nguyện, mâu thuẫn giữa chị T và anh X không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T cho ly hôn với anh X.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống Chị T và anh X có 01 con chung là cháu Lê Thị Mỹ L, sinh 29/4/2018 hiện đang sinh sống với ông, bà nội (bà Phan Thị T1, ông Lê Bá M) tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Anh Xanh đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan; chị T đang sinh sống tại Đồng Nai; chị T có nguyện vọng giao con chung cho anh X chăm sóc, nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu L, sinh 29/4/2018 cho anh X trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Do anh X đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan chưa về nên cháu L được bà Phan Thị T1, ông Lê Bá M chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh X trở về Việt Nam.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thị Mỹ L, sinh 29/4/2018 là 3.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi nên được xem xét chấp nhận.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phần tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 179, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án; xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T được ly hôn anh Lê Bá X.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Mỹ L, sinh 29/4/2018 cho anh Lê Bá X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh X chưa nhập cảnh về Việt Nam, cháu L sẽ được bà Phan Thị T1, ông Lê Bá M (bố mẹ của anh X) chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị Trương Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thị Mỹ L, sinh 29/4/2018 là 3.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    “Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

  4. Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000211 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chị Trương Thị T phải nộp thêm 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi.
  5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn, người có quyền

lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Cục THADS tỉnh Q.Trị;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV, TỔ HCTP;
  • - UBND xã Hải An;
  • - Lưu hồ sơ, VP Tòa DS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Hoài Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trường Thị T - Lê Bá X "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger