|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Anh Thư
Ông Phú Minh Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số: 39/2025/TLST-HNGĐ ngày 12/02/2025 về “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HN ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà La Mẫn N, sinh năm 1987; địa chỉ: Số E đường Â, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: Số A đường Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A. (Xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, tại các bản khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn là bà La Mẫn N trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71 ngày 18/7/2017 tại Ủy ban nhân dân Phường P, Quận A, Tp .. Thời gian đầu, hai bên chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Năm 2022, ông T bị kết án phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự nơi công cộng” phải chấp hành án phạt tù 05 năm nên bà phải một mình chăm lo cho các con. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn La Gia B (nam, sinh ngày 15/10/2015) và Nguyễn La Tuấn K (nam, sinh ngày 01/10/2020). Khi ly hôn, bà N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không có tài sản chung hay nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 09/6/2025.
Tại Biên bản lấy thời khai ngày 25/4/2025, bị đơn là ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông xác nhận việc đăng ký kết hôn như bà N trình bày. Quá trình chung sống thì vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng không trầm trọng. Tuy nhiên, từ khi ông bắt đầu chấp hành hình phạt tù thì bà N muốn ly hôn. Do đó, ông đồng ý ly hôn để mỗi người có lựa chọn, cuộc sống riêng.
Về con chung: Ông đồng ý giao 02 con chung là Nguyễn La Gia B và Nguyễn La Tuấn K cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định vợ chồng không có tài sản chung hay nợ chung.
Hiện ông đang chấp hành hình phạt tù và cũng đồng ý ly hôn nên xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, hòa giải, phiên họp, xét xử.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Bà La Mẫn N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại: Số A đường Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn số 71 đăng ký ngày 18/7/2017 tại Ủy ban nhân dân Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của bà N: Căn cứ vào lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng bà N và ông T là do hai bên không còn tình cảm, không thể cảm thông, chia sẽ với nhau trong cuộc sống; đặt biệt từ khi ông T bị bắt đi chấp hành án phạt tù. Bà N yêu cầu ly hôn và được ông T đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn gia đình của vợ chồng bà N và ông T diễn ra đã lâu và ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà N.
[5] Về con chung: Bà N và ông T có 02 con chung là Nguyễn La Gia B - sinh ngày 15/10/2015 và Nguyễn La Tuấn K - sinh ngày 01/10/2020; hiện đang ở với mẹ. Khi ly hôn, bà N và ông T đều xác định giao con chung cho bà N tiếp nuôi. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở tiếp tục giao 02 con chung bà N trực tiếp nuôi.
[6] Ghi nhận sự tự nguyện của bà N về không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con chung.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N và ông T đều xác định không có tài sản chung hay nợ chung, không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bà N có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[9] Các kiến nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 227, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà La Mẫn N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà La Mẫn N được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Bà N và ông T có 02 con chung là Nguyễn La Gia B - sinh ngày 15/10/2015 và Nguyễn La Tuấn K - sinh ngày 01/10/2020. Khi ly hôn, giao 02 con chung cho bà N trực tiếp nuôi.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con chung.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà N và ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà La Mẫn N phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0079655 ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Tp .. Bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thế Đông |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với Bị đơn
