Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06/3/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Thái;
  2. Ông Bùi Văn Mưa Lớn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 366/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Trần Thị Kim N, sinh năm: 1990;
  2. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Địa chỉ liên hệ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: anh Trần B, sinh năm: 1991;
  4. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Các đương sự có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Trần Thị Kim N trình bày:

Chị với anh Trần B do tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó không còn hạnh phúc nữa do có khó khăn về kinh tế, bất đồng quan điểm. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị đã tìm cách tháo gỡ, chị N góp ý anh BuLy sửa đổi nhưng một thời gian mọi việc vẫn vậy. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và có khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị với anh B đã ly thân mỗi người ở một nơi từ tháng 9/2024 đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, chỉ tới lui tới thăm nhau vì con. Hiện nay, vợ chồng chị vẫn còn ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn chưa được tháo gỡ. Nay, chị N xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Trần Diễm M, sinh ngày 25/8/2013 và Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2017. Hiện nay, cháu M và cháu P đang sống với chị N. Sau khi ly hôn, chị N đồng ý cho anh B được nuôi dưỡng cháu Diễm M; cháu Hoàng P sẽ do chị N nuôi dưỡng. Chị N không cấp dưỡng nuôi cháu M cũng không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi cháu P.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị N không yêu cầu anh BuLy cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Trần B trình bày:

Những thông tin về hôn nhân của vợ chồng anh, chị N trình bày trên đây là đúng. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do khó khăn về kinh tế; bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường hay cãi vã, không có tiếng nói chung. Anh chị đã ly thân mỗi người ở một nơi, mạnh ai người nấy sống nhưng có liên lạc, tới lui, quan tâm cuộc sống của nhau vì con. Anh B đã cố gắng động viên chị N về nhà để cùng lo làm ăn, lo cho con nhưng chị N không đồng ý. Hiện nay, anh còn tình cảm với chị N và việc vợ chồng ly hôn sẽ ảnh hưởng đến tương lai con cái sau này nên chị N xin ly hôn anh không đồng ý. Tuy nhiên, chị N xin ly hôn với thái độ rất cương quyết nên theo anh không thay đổi được gì.

Về con chung: anh chị có 02 người con chung là Trần Diễm M, sinh ngày 25/8/2013 và Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2017. Các con hiện đang sống với chị N. Trường hợp Toà án giải quyết cho anh B với chị N ly hôn, anh B yêu cầu được nuôi cháu M, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi cháu M. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi cháu P, anh B đồng ý.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh B không yêu cầu chị N cấp dưỡng sau khi ly hôn.

Tại phiên tòa, chị N vẫn giữ yêu cầu khởi kiện; anh B vẫn giữ nguyên lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim N đối với anh Trần B.

Về con chung: Sau ly hôn, chị N được nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2017; anh B nuôi cháu Trần Diễm M, sinh ngày 25/8/2013.

Về cấp dưỡng nuôi con, cấp dưỡng vợ chồng: không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 22/11/2024, chị Trần Thị Kim N khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần B. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị N:

Chị N, anh B tự nguyện kết hôn vào năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 18/02/2014. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do có khó khăn về kinh tế; vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau thường hay cãi vã từ đó không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị N, anh B ly thân sống mỗi người một nơi. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng không được tháo gỡ; quan hệ hôn nhân vợ chồng chị N không có cải thiện, anh chị vẫn còn ly thân. Chị N xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với anh B. Đối với yêu cầu của chị N, anh B không đồng ý vì còn tình cảm với chị N. Tuy nhiên, theo anh B, chị N xin ly hôn với thái độ rất cương quyết nên không thay đổi được gì. Điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận yêu cầu của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: anh B, chị N có 02 con chung là Trần Diễm M, sinh ngày 25/8/2013 và Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2017. Hiện nay, cháu M và cháu P đang sống với chị N. Khi ly hôn, anh B và chị N thống nhất anh B được nuôi dưỡng cháu Trần Diễm M; chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng P nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

[4] Về cấp dưỡng: chị N, anh B đồng ý cả hai không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau nên ghi nhận.

[5] Về chia tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị N, anh B không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim N xin ly hôn đối với anh Trần B;
    • * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim N với anh Trần B.
    • * Về nuôi con chung: chị Trần Thị Kim N được tiếp tục nuôi dưỡng 01 (một) con chung là Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2017. Anh Trần B được quyền nuôi dưỡng 01 (một) con chung là Trần Diễm M, sinh ngày 25/8/2013.
    • Chị Trần Thị Kim N có trách nhiệm giao cháu Trần Diễm M, sinh ngày 25/8/2013 cho anh Trần B nuôi dưỡng.

      Chị Trần Thị Kim N với anh Trần B không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

      Chị Trần Thị Kim N và anh Trần B được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

    • * Về chia tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • * Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • Chị Trần Thị Kim N và anh Trần B không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

  2. Về án phí: chị Trần Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006630 ngày 28/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - UBND xã Tân Phú Tây;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim N ly hôn Trần B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger