|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 12/2025/HNGĐ - ST Ngày: 04/4/2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Tâm
- Bà Nguyễn Thị Thủy
- - Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tùng Lâm - Thư ký TAND huyện Lâm Thao
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hương - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2025/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXX - ST ngày 27/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐHPT ngày 14/3/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phan Thị Nguyệt A, sinh năm 1997;
- Nơi ĐKHKTT: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990
- Nơi ĐKHKTT: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Chị Nguyệt A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án chị Phan Thị Nguyệt A trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Nguyệt A và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn ngày 15/10/2014 tại ủy ban nhân dân xã S (nay là xã P) huyện L, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống cùng gia đình anh L. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Từ đầu năm 2023 đến nay vợ chồng sống ly thân, hiện vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị A xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh L.
- - Về con chung: Chị Phan Thị Nguyệt A xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 23/4/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu V sống cùng anh L và ông bà nội. Khi ly hôn chị A đề nghị Tòa án giao cháu V cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh L.
- - Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị Phan Thị Nguyệt A không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh L biết đến Tòa án giải quyết việc ly hôn nhưng anh L đều không có mặt (không có lý do). Do đó anh L không có lời khai.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị Nguyệt A ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
- - Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 23/4/2015 đến khi cháu thành niên. Chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L.
- - Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị Phan Thị Nguyệt A không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị Nguyệt A phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn chị Phan Thị Nguyệt A và bị đơn anh Nguyễn Văn L đều đăng kí hộ khẩu thường trú tại Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
[1.2]. Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Phan Thị Nguyệt A và bị đơn anh Nguyễn Văn L tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phan Thị Nguyệt A đã đến Tòa có lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Chị A có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với anh Nguyễn Văn L Tòa án đã nhiều lần xuống nơi cư trú và gia đình anh L tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L, để anh đến Tòa có lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo thủ tục chung của pháp luật. Nhưng anh L cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, anh L vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án theo quy định là phù hợp quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, ông Nguyễn Văn L1 (bố đẻ anh L1) và của chính quyền địa phương nơi anh, chị cư trú có thể xác định: Chị Phan Thị Nguyệt A và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn ngày 15/10/2014 tại ủy ban nhân dân xã S (nay là xã P) huyện L, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được thời gian đầu sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh L là trầm trọng kéo dài, mục đích xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững không đạt được. Anh L không có biện pháp cải thiện cuộc sống vợ chồng và cũng không đến Tòa để Tòa án tiến hòa giải vợ chồng đoàn tụ, chung sống. Do vậy, cần xử cho chị A được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung:
Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung là Nguyễn Khánh V, sinh ngày 23/4/2015 sinh sống, học tập tại xã P với anh L cùng ông bà N. Nguyện vọng của chị A, cháu V là cho cháu ở với bố (anh L) và theo ông Nguyễn Văn L1 (bố đẻ anh L) cho biết: Tuy anh L không đến Tòa để trình bày quan điểm về con chung, nhưng anh L có nói với gia đình là xin được nuôi con khi vợ chồng ly hôn. Vì vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con chung và theo nguyện vọng của các bên đương sự. Cần giao con chung là Nguyễn Khánh V, sinh ngày 23/4/2015 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Chị A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị A không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
[3]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phan Thị Nguyệt A phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị Nguyệt A ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 23/4/2015 đến khi thành niên. Chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L. Chị A có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật không ai được ngăn cấm.
- Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị Phan Thị Nguyệt A không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phan Thị Nguyệt A phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền chị A phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: BLTU/2024/0000802 ngày 08/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trịnh Đình Yên |
Bản án số 12/2025/HNGĐ - ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị A xin ly hôn anh L
