Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày 03/3/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài
  • Ông Lê Phi Long
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 4, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Vũ Thị Việt L, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: phòng 962, tầng 4, khu nhà Ang Mo K, Singapore. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; nơi đăng ký thường trú: khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q về hành vi cố ý gây thương tích. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Việt H, sinh năm 1966; nơi thường trú: khu L, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/7/2024 và bản tự khai đề ngày 03/7/2024, đều được Đ tại Singapore chứng thực ngày 03/7/2024, nguyên đơn chị Vũ Thị Việt L trình bày:

Chị Vũ Thị Việt L và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 17/6/2014, tại Ủy ban nhân phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vì để phát triển kinh tế gia đình nên chị L đã xuất cảnh sang Singapore lao động; từ khi chị L đi Singapore thì chị L và anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do chị L và anh T bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp, không có tiếng nói chung và do sống xa nhau nên vợ chồng không có điều kiện gần gũi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị L và anh T đã nhiều lần cho nhau cơ hội, cố gắng hàn gắn mâu thuẫn nhưng không có kết quả, chị L không còn tình cảm với anh T, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị L được ly hôn với anh T.

- Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh T có một con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 22/12/2014. Chị L yêu cầu Toà án giải quyết cho chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con trưởng thành; chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con.

Do chị L đang sinh sống, lao động ở nước ngoài, chưa về nước thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung được nên chị L đề nghị Tòa án tạm giao con chung cho mẹ đẻ của chị L là bà Nguyễn Việt H nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi chị L về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do chị L đang sinh sống, lao động ở nước ngoài, chị L đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và đề nghị được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

* Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 28/02/2025, có xác nhận của Trại tạm giam Công an tỉnh Q, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh T2 và chị Vũ Thị Việt L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 17/6/2014 tại Ủy ban nhân phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh T2 tại khu Y. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì lớn; từ tháng 11/2021, do anh T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 15 tháng tù, chấp hành án tại Trại giam N dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Trong thời gian anh T2 đi chấp hành án, chị L chỉ đến thăm một lần và thông báo sẽ đi lao động tại Singapore. Sau đó, chị L thỉnh thoảng gửi tiền thăm nuôi, còn không đến thăm trực tiếp anh T2 lần nào nữa. Chị L đi lao động tại Singapore từ tháng 8/2022, đến nay chưa về. Anh T2 chấp hành án xong về địa phương từ tháng 01/2023, vợ chồng chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Đến tháng 6/2024, anh T2 thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, em trai anh T2 gọi điện cho chị L nhờ giúp đỡ về kinh tế để bồi thường cho bị hại thì chị L nhắn tin cho anh T2 với nội dung đồng ý hỗ trợ 50.000.000 đồng với điều kiện anh T2 phải ký đơn ly hôn cho chị L, anh T2 đã đồng ý. Đến nay chị L xin ly hôn, anh T2 đồng ý, đề nghị Toà án giải quyết để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: anh T2 và chị L có một con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 22/12/2014. Hiện nay con chung đang do mẹ đẻ của chị L nuôi dưỡng vì chị L đang ở Singapore, còn anh T2 đang bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Khi ly hôn, anh T2 đồng ý để chị L nuôi con, anh T2 đang bị bắt tạm giam nên không có điều kiện để cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh T2 không đề nghị Toà án giải quyết.

Do hiện nay anh T2 đang bị bắt tạm giam, đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh T2 và thông báo kết quả xét xử cho anh T2.

* Tại đơn trình bày ý kiến đề ngày 21/01/2025,của người có quyền lợi nghĩa vụ bà Nguyễn Việt H (đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh), thể hiện nội dung: hiện nay bà H đang trông nom, chăm sóc cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 22/12/2014 là con chung của chị Vũ Thị Việt L và anh Nguyễn Văn T. Bà H đề nghị Toà án tạm giao cháu T1 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị L làm việc tại nước ngoài cho đến khi chị L về nước thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con do bà H đã được chị L ủy quyền. Bà H không yêu cầu chị L và anh T phải cấp dưỡng để bà H nuôi dưỡng cháu T1.

* Tại đơn trình bày nguyện vọng đề ngày 20/01/2025, của cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 22/12/2014, thể hiện nội dung: hiện nay cháu T1 đang sống cùng bà ngoại là bà Nguyễn Việt H tại khu L, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Cháu T1 có nguyện vọng được ở cùng với mẹ, sau khi bố mẹ ly hôn.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Việt L như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Việt L đối với anh Nguyễn Văn T.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Việt L, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; nguyên đơn chị Vũ Thị Việt L hiện đang sinh sống tại địa chỉ: phòng I, tầng D, khu nhà Ang Mo K, Singapore. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Các đương sự đều vắng tại phiên tòa và đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập lưu tại hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị Việt L và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/6/2014 tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, chị L và anh T sống chung cùng nhà với bố mẹ anh T tại khu Y, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Về tình trạng hôn nhân của chị L và anh T như chị L và anh T trình bày nêu trên, tuy không có sự thống nhất về nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng có căn cứ xác định chị L và anh T đã không còn chung sống với nhau từ tháng 11/2021, khi anh T bị bắt do phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 15 tháng tù, đi chấp hành án tại Trại giam N; còn chị L đi lao động tại Singapore từ tháng 8/2022, đến nay chưa về; chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh T, anh T đồng ý. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị L và anh T không còn tồn tại đời sống chung; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần; không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L đối với anh T.

[2.2] Về con chung: chị Vũ Thị Việt L và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 22/12/2014. Do chị L đang sinh sống, làm việc tại Singapore; còn anh T đang bị tạm giam từ ngày 22/8/2014, tại Trai tạm giam Công an tỉnh Q về hành vi cố ý gây thương tích nên hiện nay cháu T1 đang do bà Nguyễn Việt H là mẹ đẻ của chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng.

Chị L và anh T cùng có quan điểm: sau khi ly hôn, chị L là người nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), anh T không phải cấp dưỡng cho con. Do chị L đang sinh sống, làm việc tại Singapore chưa về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con được, đề nghị Tòa án tạm giao con cho mẹ đẻ của chị L là bà Nguyễn Việt H nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi chị L về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con theo quy định của pháp luật; bà H cũng có quan điểm: hiện nay bà là người nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của chị L và anh T. Bà đồng ý nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T1 trong thời gian chị L làm việc ở nước ngoài. Căn cứ quy định tại Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cùng nguyện vọng của cháu T1 là muốn ở với mẹ. Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh T nên chấp nhận yêu cầu, quan điểm của chị L, anh T và bà H về việc nuôi con chung như nêu trên. Anh T2 có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Vũ Thị Việt L và anh Nguyễn Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị Việt L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Việt L.

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị Việt L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

[2] Về con chung; về cấp dưỡng cho con:

Giao cho chị Vũ Thị Việt L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Văn T1, sinh ngày 22/12/2014 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Nguyễn Văn T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vũ Thị Việt L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Vũ Thị Việt L không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Nguyễn Văn T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Tạm giao cháu Nguyễn Văn T1 cho bà Nguyễn Việt H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị Vũ Thị Việt L về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Vũ Thị Việt L và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: chị Vũ Thị Việt L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005911 ngày 22/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Vũ Thị Việt L biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Việt H biết, đều có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Minh Thành,
  • thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger