|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-PT Ngày: 27 - 5 - 2025 V/v: Xin ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
- Các Thẩm phán: Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Hoàng Rung K'Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2024/TLPT-HNGĐ ngày 09/10/2024 về việc “Xin ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 131/2024/QĐ-PT ngày 11/11/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 73/2025/TB-PT ngày 07/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần T, sinh năm 1972 Địa chỉ: Số I thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần T có: Luật sư Ngô Trọng H – Công ty luật H và Cộng sự. Địa chỉ: Số H (lầu A, P) N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số A H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N có: Ông Trần Phương N1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Số G đường H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Theo văn bản ủy quyền lập ngày 04/3/2025 - Có mặt)
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị N có: Luật sư Trần Văn K – Văn phòng luật sư Thành P. Địa chỉ: Số C (tầng trệt) N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Q, sinh năm 1957; địa chỉ: Số A thôn H, xã G, huyện D, tỉnh lâm Đồng. (Có mặt)
2. Ngân hàng N2 - Chi nhánh D2; địa chỉ: Số I H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Đỗ Văn T1 - Chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh. (Vắng mặt)
3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
4. Ông Ngô Văn T2, sinh năm 1968; địa chỉ: Số C thôn F, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
5. Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
6. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1988 Địa chỉ: Số A thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
7. Ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1959; địa chỉ: Số I T, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền bà Hồ Thị P1, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ hiện nay lô E N, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (Văn bản ủy quyền ngày 06-7-2021). (Có mặt)
8. Ông Nguyễn D, sinh năm 1986; địa chỉ: Số I T, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền bà Hồ Thị P1, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ hiện nay lô E N, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản ủy quyền ngày 06-7-2021). (Có mặt)
Do có kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn D; ông Nguyễn Đình T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa ông T trình bày:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà N tự nguyện kết hôn năm 2005, đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện D. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm về làm ăn kinh tế, bà N tự ý sang nhượng đất và vay mượn nhiều người. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2021 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
1.2. Về con chung: Ông và bà N có 02 con chung tên Trần Minh T4, sinh ngày 16/10/2005 và Trần Gia B, sinh ngày 08/4/2012. Hiện nay cháu T4 đã trưởng thành, hoàn toàn khỏe mạnh, khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết còn cháu B ông theo nguyện vọng của con ở với ba hay mẹ tùy con. Nếu con ở với bà N, ông cấp dưỡng mỗi tháng 15.000.000đ. Tại phiên tòa ông thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, nếu con ở với bà N ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.0000đ.
1.3. Về tài sản chung: Gồm có diện tích đất 242,4m², thuộc thửa số 348, tờ bản đồ số 32D xã Đ, được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt là GCNQSDĐ) số AK 096470 ngày 14-8-2007 đứng tên ông Trần T; diện tích đất 333m², thuộc thửa số 400, tờ bản đồ số 32D xã Đ, được UBND huyện D cấp GCNQSDĐ đứng tên ông Trần T, bà Nguyễn Thị N; diện tích đất 397,5m², thuộc thửa số 186, tờ bản đồ số 15 thị trấn D, được UBND huyện D cấp GCNQSDĐ số AA 552821 đứng tên ông Trần T, bà Nguyễn Thị N. Ông đã thoả thuận với ngân hàng là giao tài sản thế chấp để xử lý nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Diện tích đất 2.989,5m² thửa số 60, tờ bản đồ số 68; diện tích đất 2.412,6m² thửa 73, tờ bản đồ số 68; diện tích đất 42.083,5m² thửa số 81, tờ bản đồ số 61; diện tích đất 41.926,5m² thửa số 82, tờ bản đồ số 31 và 02 thửa đất chưa có số lô, số thửa và diện tích. Các diện tích đất trên chưa được cấp GCNQSDĐ tọa lạc tại thôn G, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Kết quả đo đạc thực tế diện tích 86.675,9m², có sự chênh lệch diện tích so với trích lục thửa đất ông thống nhất không có ý kiến. Thống nhất trị giá tài sản theo kết quả thẩm định giá 5.012.400.000đ, trong quyền sử dụng đất trị giá 3.553.711.900đ, tài sản trên đất trị giá 1.458.688.281đ. Xác định tài sản trên là tài sản chung đề nghị Toà án chia ½ diện tích đất trên chia bằng hiện vật.
Ngoài các tài sản chung đã trình bày, vợ chồng còn có tài sản chung là xe ô tô biển số 49A.12914; xe cơ giới biển số 49C-144.67 và 01 xe cơ giới không có giấy tờ; bộ B1; bộ bàn ghế salon gỗ hương, bộ sập xoan đào; bộ bàn ăn gỗ hương; 18 ti vi; 20 giường và 17 tủ lạnh, ông ước lượng trị giá tài sản khoảng 500.000.000đ, đề nghị Toà án chia ½ tài sản trên. Ông sẽ làm đơn khởi kiện bổ sung giao nộp trong vòng 03 ngày kể từ ngày 22/02/2024. Tuy nhiên, quá thời hạn trên ông T không nộp đơn đơn khởi kiện bổ sung, nên Tòa án không xem xét phần yêu cầu này. Ngày 14/6/2024 ông xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản chung của vợ chồng.
1.4. Về nợ chung: Vợ chồng có nợ Ngân hàng N2 chi nhánh D2 số tiền 6.930.000.000đ và nợ ông Trần Q số tiền 5.300.000.000đ, khi ly hôn ông và bà N cùng có trách nhiệm mỗi người trả ½ số nợ trên. Còn nợ bà L, bà T6, chị K, bà T7, ông Đ, bà H2, bà H1, bà D1, ông T3, ông D, ông T2 và bà L1 bà N trình bày là nợ riêng của bà N nên bà N tự chịu trách nhiệm trả số nợ trên.
2. Bị đơn bà N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có ý kiến tuy nhiên tại bản tự khai ngày 25/10/2021 và biên bản ghi lời khai ngày 10/11/2021 bà N trình bày:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện kết hôn năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện D. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 năm phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T sống không chung thuỷ, cờ bạc, mỗi khi sự việc xảy ra ông T lại xin tha thứ, đến năm 2015 bà đã làm đơn xin ly hôn nhưng được thôn hoà giải nên vợ chồng về đoàn tụ lại với nhau, năm 2015 ông T lại đi ngoại tình, bà đã làm đơn gửi đến Công an huyện D và Công an thị trấn D giải quyết và hoà giải thì vợ chồng lại về đoàn tụ, đến năm 2021 ông T lại đi ngoại tình, đập phá nhà cửa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2021 đến nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn đồng ý ly hôn với ông T.
2.2. Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Trần Minh T4, sinh ngày 16/10/2005 và Trần Gia B, sinh ngày 08/4/2012. Hiện nay cháu T4 đã trưởng thành, hoàn toàn khỏe mạnh, khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết còn cháu B bà theo nguyện vọng của con ở với ba hay mẹ tùy con. Nếu con ở với bà thì bà yêu cầu ông T cấp dưỡng mỗi tháng 15.000.000₫.
2.3. Về tài sản chung: Ngoài tài sản chung như ông T trình bày vợ chồng còn có tài sản là cuốn sổ vốn đầu tư cho dân cuối năm thu lại khoảng 10 tỷ đồng (đầu tư vật liệu xây dựng), 03 chiếc xe, giấy tờ xe đứng tên ông T5 hiện nay do ông T đang quản lý.
2.4. Về nợ chung: Ngoài nợ ngân hàng vợ chồng còn nợ ông Trần Q số tiền 4.900.000.000₫ vay đầu tư kinh doanh; Nợ bà Lâm Thị Thu Tó số tiền 1.200.000.000₫ vay đầu tư làm ăn; Nợ chị Vũ Thị Ngọc K1 số tiền 2.500.000.000₫ vay đầu tư đất đai; Nợ bà Nguyễn Thị T7 số tiền 550.000.000đ nhận tiền đặt cọc đất; Nợ ông Lê Cao Đ số tiền 400.000.000đ vay để kinh doanh; Nợ bà Trần Thị H2 số tiền 150.000.000đ vay để kinh doanh; Nợ bà Nguyễn Thị Duyên S tiền 150.000.000đ; Nợ bà Nguyễn Thị L1 số tiền 150.000.000đ vay đầu tư kinh doanh; Nợ bà Nguyễn Thị L số tiền 200.000.000đ. Tổng cộng 10.200.000.000đ. Khi ly hôn về tài sản chung và nợ chung bà đưa ra ba hướng để giải quyết: Phương án 1 nợ ngân hàng mỗi người trả ½ thì bàn giao cuốn sổ đầu tư cho dân cho ông T để ông T thu nợ từ dân trừ dần; Ông T quản lý sử dụng 02 thửa đất ở Đ, bà được hưởng diện tích đất tại thị trấn D. Phương án 2 trường hợp ông T không đồng ý trả nợ ngân hàng mỗi người ½ thì bà giữ cuốn sổ vốn đầu tư cho dân để bà thu nợ và trả nợ cho ngân hàng, nếu không thống nhất nữa thì bán 12 mẫu đất ở Đắk Nông và diện tích đất ở thị trấn D trả toàn bộ số nợ còn đất ở Đinh Lạc chia ½. Về chiếc xe, nếu con ở với ông T thì bà đồng ý để lại 03 chiếc xe cho ông T, nếu con ở với bà thì bà lấy xe con để phục vụ các con ăn học.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng N2 - chi nhánh D2 có ông T1 là đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng trình bày: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 5408- LAV-201904184 ngày 04/10/2019 và số 5408-LAV-202103724 ngày 08/10/2021 thì vợ chồng ông T, bà N có vay của ngân hàng N2 chi nhánh D2 số tiền 6.930.000.000đ và tiền lãi phát sinh trong hạn tính từng hợp đồng tín dụng có bảng kê chi tiết tính lãi phải trả đến ngày 29/7/2024 khách hàng Trần T số tiền lãi là 1.652.279.178đ. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vợ chồng ông T, bà N thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với diện tích đất thửa số 86, tờ bản đồ số 15 thị trấn D; thửa đất số 400 và thửa đất số 348 cùng tờ bản đồ số 32D xã Đ Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông T, bà N trả số tiền gốc 6.930.000.000đ và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 29/7/2024 là 1.652.279.178đ. Tổng cộng cả gốc và lãi 8.582.279.178đ, tiếp tục chịu lãi phát phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tiếp tục duy trì biện pháp thế chấp tài sản đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AD 2020131 ngày 22/9/2020 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AD 19075/HDT ngày 04/10/2019 để đảm bảo cho việc thi hành án.
3.2. Ông Trần Q trình bày: Ngày 15/3/2020 ông có chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà N diện tích đất thửa số 37A, 38A và 39A với giá thoả thuận 6.900.000.000đ. Vợ chồng ông T, bà N trả trước 1.600.000.000đ còn lại 5.300.000.000₫ vợ chồng ông T viết giấy hẹn cuối tháng 8/2020 thanh toán số tiền trên. Việc chuyển nhượng đã thực hiện xong không có ý kiến gì. Trong thời gian từ ngày chuyển nhượng đất ngày 31/12/2021 vợ chồng ông T, bà N tự nguyện trả lãi cho ông tại ngân hàng, nhưng từ ngày 01/01/2022 đến nay vợ chồng ông T, bà N không trả lãi. Nay ông yêu cầu vợ chồng ông T, bà N trả số tiền nợ gốc là 5.300.000.000đ và số tiền lãi phát sinh từ ngày 01/01/2022 đến ngày 29/7/2024 là 30 tháng 29 ngày với mức lãi suất 0,85%/tháng thành tiền 1.395.048.000đ. Tổng công cả gốc và lãi là 6.695.048.000đ.
3.3. Bà Nguyễn Thị L trình bày: Ngày 04/01/2020 bà Nguyễn Thị N có vay của bà số tiền 248.000.000đ, mục đích vay để bà N kinh doanh, thời hạn trả nợ là 01 năm tuy nhiên đến nay bà N không trả. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà N trả số tiền 248.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.
3.4. Bà Trần Thị H2 trình bày: Ngày 02/3/2019 bà N có vay của bà số tiền 100.000.000đ; ngày 21/5/2020 bà N vay tiếp của bà số tiền 320.000.000đ. Khi vay chỉ có một mình bà N vay. Ngày 22/6/2020 bà có đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà N với số tiền 166.000.000đ, đối với diện tích đất chiều ngang 10m, dài 21m. Khi đặt cọc và nhận tiền chuyển nhượng chỉ có một mình bà N. Bà xác định nợ trên là nợ chung của vợ chồng vì lúc đó bà N và ông T còn đang sống chung với nhau, bà N nói là làm đường cắt lô đất. Nay vợ chồng ly hôn bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T, bà N trả số tiền vay ngày 02/3/2019 và ngày 21/5/2020. Tổng cộng 420.000.000đ. Huỷ hợp đồng đặt cọc giữa bà và bà N ký kết ngày 22/6/2020, buộc bà N trả số tiền đã nhận cọc 166.000.000đ, do bà N vi phạm hợp đồng buộc bà N phải đền cọc 166.000.000đ, tổng cộng 320.000.000đ, số tiền trên bà yêu cầu bà N trả vì không liên quan gì đến ông T.
3.5. Bà Bùi Thị H1 trình bày: Ngày 22/02/2022 bà N có vay của bà số tiền 100.000.000đ, hẹn trong vòng 30 ngày thanh toán trả số tiền trên nhưng đến nay bà N không trả, bà xác định nợ trên là nợ riêng của bà N, yêu cầu bà N trả số tiền 100.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.
3.6. Ông Ngô Văn T2 trình bày: Ngày 25/4/2022 bà N có vay của ông số tiền 200.000.000đ, hẹn khi nào ông cần, báo trước cho bà N mấy ngày là trả nhưng đến nay ông đã đòi nhiều lần nhưng bà N không trả. Ông xác định nợ trên là nợ riêng của bà N, yêu cầu bà N trả số tiền 200.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.
3.7. Ông Nguyễn Đình T3 có bà Hồ Thị P1 đại diện theo uỷ quyền trình bày: Ngày 09/12/2019 bà N có vay của ông T3 số tiền 65.000.000đ, lãi thỏa thuận 3%/tháng, hẹn đến ngày 09/02/2020 thanh toán trả số tiền trên. Ngày 20/5/2020 bà N vay tiếp của ông T3 số tiền 484.000.000đ, hẹn 01 tháng thanh toán trả số tiền trên, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Tuy nhiên đến nay bà N không trả và yêu cầu tính lãi với hai khoản vay trên với mức suất 1,67%/tháng.
Đối với khoản vay ngày 09/12/2019 số tiền nợ gốc là 60.245.250đ và số tiền lãi phát sinh từ ngày 09/12/2019 đến 29/7/2024 làm tròn 55,5 tháng với mức lãi suất 1,67%/tháng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 125.245.250đ.
Đối với khoản vay ngày 20/5/2020 số tiền gốc là 484.000.000đ và số tiền lãi phát sinh từ ngày 20/5/2020 đến 29/7/2024 làm tròn 50 tháng với mức lãi suất 1,67%/tháng thành tiền 404.140.000đ. Tổng cộng cả gốc và lãi 888.140.000đ. Tổng hai khoản vay trên là: 1.013.385.250. Ông T3 xác định đây là nợ chung của bà N và ông T, yêu cầu vợ chồng ông T, bà N trả số tiền trên.
3.8. Ông Nguyễn D có bà Hồ Thị P1 đại diện theo uỷ quyền trình bày: Ngày 01-3-2020 bà N có vay của ông D số tiền 150.000.000đ, hẹn 20 ngày thanh toán trả số tiền trên, lãi thỏa thuận 3%/ tháng. Ngày 24/5/2020 bà N vay tiếp của ông D số tiền 800.000.000đ, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Tuy nhiên đến nay bà N không trả. Với hai khoản vay trên nay ông chỉ tính lãi 1,67%/tháng.
Đối với khoản vay ngày 01/3/2020 số tiền nợ gốc là 150.000.000đ và số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/3/2020 đến 29/7/2024 là 52 tháng 28 ngày làm tròn 52,5 tháng với mức lãi suất 1,67%/tháng thành tiền 131.512.500đ. Tổng cả gốc và lãi 281.512.500đ.
Đối với khoản vay ngày 24/5/2020 số tiền nợ gốc là 800.000.000đ và số tiền lãi phát sinh tính từ 24/5/2020 đến 29/7/2024 là 50 tháng 05 ngày làm tròn 50 tháng với mức lãi suất 1,67%/tháng thành tiền 668.000.000đ, tổng cộng gốc và lãi 1.468.000.000đ. Tổng cộng gốc và lãi hai khoản vay trên là: 1.749.512.500đ. Ông xác định đây là nợ chung của bà N và ông T, yêu cầu vợ chồng ông T, bà N trả số tiền trên.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.
Tại bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần T được ly hôn với bà Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 08/4/2012 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự
- Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Trần T về việc yêu cầu chia tài sản.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trần T tự nguyện chịu 72.086.000đ số tiền chi phí tố tụng đã thanh quyết toán (Đã nộp đủ).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2, buộc ông Trần T, bà Nguyễn Thị N mỗi người thanh toán trả ½ số tiền 8.582.279.178₫ đã vay. Trong đó ông Trần T thanh toán trả 4.291.139.589đ và bà Nguyễn Thị N thanh toán trả 4.291.139.589đ, tiếp tục chịu lãi phát phát sinh từ ngày 31-7-2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tiếp tục duy trì biện pháp thế chấp tài sản đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AD 2020131 ngày 22-9-2020 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AD 19075/HDT ngày 04-10-2019 để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Q, buộc ông Trần T, bà Nguyễn Thị N mỗi người thanh toán trả 1/2 số tiền 6.695.048.000đ cho ông Trần Q. Trong đó ông Trần T8 thanh toán trả 3.347.524.000₫ và bà Nguyễn Thị N thanh toán trả 3.347.524.000đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H1, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Bùi Thị H1 số tiền 100.000.000₫.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T2, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho ông Nguyễn Văn T9 số tiền 200.000.000₫.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H2: Buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Trần Thị H2 số tiền đã vay 420.000.000₫ và số tiền đã nhận cọc 166.000.000đ và tiền phạt cọc 166.000.000đ. Tổng số tiền bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị H3 740.000.000đ. Bác yêu cầu của bà Trần Thị H2 về việc yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trả số tiền trên.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L: Buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị L số 248.000.000đ. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trà số tiền trên.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình T3, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho ông Nguyễn Đình T3 số tiền số 697.092.000đ, trong đó tiền gốc 549.000.000đ và tiền lãi 148.092.000đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình T3 về việc yêu cầu trả tiền lãi 316.292.500đ và yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trả số tiền 697.092.000đ.
- Chấp nhận một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn D, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho ông Nguyễn D số tiền số 1.206.262.500đ, trong đó tiền gốc 950.000.000đ và tiền lãi 256.262.500đ.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn D về việc yêu cầu trả tiền lãi 543.250.000đ và yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trả số tiền 1.206.262.500đ.
Ngoài ra, bản án tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 30/8/2024 bà Nguyễn Thị N kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án hôn nhân gia đình số: 57/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
Ngày 20/8/2024 ông Nguyễn D và ông Nguyễn Đình T3 kháng cáo một phần bản án về yêu cầu tính lãi và yêu cầu ông T cùng trả nợ.
Tại phiên tòa ngày 24/02/2025, bà N thay đổi nội dung kháng cáo cụ thể: về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dưỡng, nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng và ông Trần Q thì bà N xin rút kháng cáo đối với những nội dung này. Đối với các khoản nợ những người còn lại bà N cho rằng là nợ chung và yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả nợ chung. Tại phiên tòa hôm nay bà N vắng mặt và người đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dưỡng, nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng và ông Trần Q thì bà N xin rút kháng cáo đối với những nội dung này. Đối với các khoản nợ những người còn lại bà N đề nghị hủy để giao về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung vì có vi phạm thủ tục tố tụng.
Ông Nguyễn D, ông Nguyễn Đình T3 rút một phần kháng cáo về yêu cầu tính lãi và vẫn giữ nguyên kháng cáo buộc ông T có nghĩa vụ trả nợ cùng bà N.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N trình bày kháng cáo của bà N là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bà N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 2, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn về trách nhiệm trả nợ đối với Ngân hàng A chi nhánh D2, tỉnh Lâm Đồng và ông Trần Q; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu tính lãi suất 1.67%/tháng của ông T3, ông D.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông T3, ông D.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà N. Buộc bị đơn bà N phải thanh toán số tiền 245.000.000đ cho bà L, đồng thời sửa về phần án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Xác định thêm quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị N, ông Đỗ Văn T1, ông Ngô Văn T2, bà Bùi Thị H1, bà Trần Thị H2, ông Nguyễn Đình T3, ông Nguyễn D vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Xét kháng cáo của bà N, ông D và ông T3 thì thấy rằng:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dưỡng, nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng và ông Trần Q thì bà N xin rút kháng cáo. Đối với kháng cáo yêu cầu tính lại lãi suất 1.67%/tháng thì ông T3, ông D rút kháng cáo tại phiên tòa. Xét thấy việc rút kháng cáo là tự nguyện nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định.
[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà N cho rằng số tiền 65.000.000₫ (vay ông T3), 150.000.000đ (vay ông D) thì bị đơn có ký giấy vay nhưng chưa nhận được tiền; còn số tiền 484.000.000₫ (vay ông T3) và số tiền 800.000.000₫ (vay ông D) thì bị đơn thừa nhận có vay, có nhận tiền nhưng đã trả hết tiền nhưng do tin tưởng nên không lấy lại giấy vay gốc nên không đồng ý với yêu cầu của ông T3 và ông D. Tuy nhiên, bị đơn bà N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà N cũng trình bày không có tài liệu gì chứng minh việc bà N ký giấy vay nhưng không nhận tiền hay chứng minh được đã trả tiền cho ông T3, ông D. Đồng thời ông T3, ông D cũng không thừa nhận nên không có căn cứ xem xét.
[3.3] Ngoài ra, bà N kháng cáo cho rằng các khoản vay này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và bà vay tiền về để phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, cũng như để sửa chữa nhà nghỉ phục vụ kinh doanh nhưng bà N không cung cấp được căn cứ chứng minh, còn ông T cũng không thừa nhận và cho rằng hai vợ chồng đã ly thân từ giữa năm 2021, việc bà N vay tiền làm gì, vay của ai thì ông không biết và không liên quan gì. Mặt khác, tại giai đoạn phúc thẩm Tòa án đã hoãn phiên tòa theo yêu cầu của bà N để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ việc bà N sửa chữa nhà nghỉ từ số tiền vay của những người liên quan nhưng sau khi Tòa án có thông báo nộp chi phí tố tụng thì bà N có đơn xin gia hạn nộp chi phí tố tụng sau đó rút đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày, cũng như kháng cáo của bà N về việc xác định các khoản nợ những người liên quan là nợ chung và buộc ông T có nghĩa vụ cùng trả nợ.
Như vậy, không có căn cứ xác định các khoản vay, nhận tiền theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác (bà Nguyễn Thị H4, ông Ngô Văn T2, bà Trần Thị H2) là để bà N sử dụng vào nhu cầu thiết yếu của gia đình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N, ông T3 và ông D.
[3.3] Xét kháng cáo của bà N đối với khoản nợ bà Nguyễn Thị L thì: Tại hợp đồng vay tiền không ghi rõ ngày tháng, có chữ ký bên vay của bà N (Bút lục 313) thể hiện số tiền vay là 245.000.000đ, vay từ ngày 04/01/2020 đến ngày 04/01/2021 và không thể hiện lãi suất. Bà L yêu cầu cả bà N và ông T phải chịu trách nhiệm thanh toán số tiền trên, tuy nhiên ông T không thừa nhận và bà L không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không được chấp nhận. Do vậy, chỉ buộc bà N thanh toán số tiền 245.000.000đ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N phải trả cho bà L số tiền 248.000.000đ là chưa chính xác nên cần sửa lại phần này.
[4] Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí tố tụng thanh quyết toán chi phí hợp lý 72.086.000đ. Ông T tự nguyện rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, tại phiên tòa sơ thẩm ông T tự nguyện chịu số tiền trên.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 144; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Ông Nguyễn D phải chịu án phí phần bị bác yêu cầu, ông Nguyễn Đình T3 đã trên 60 tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định phần không chấp nhận yêu cầu.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T3 và ông D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. (Ông T3 trên 60 tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định).
Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[7] Từ những phân tích nhận định trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T3 và ông D. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà N (Về phần nghĩa vụ trả nợ cho bà L và án phí). Sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định trên.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, án phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị N về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dưỡng, nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện D2 và ông Trần Q;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo yêu cầu tính lại lãi suất 1.67%/tháng của ông Nguyễn Đình T3 và ông Nguyễn D;
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đình T3 và ông Nguyễn D;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị N.
Sửa Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 57/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần T được ly hôn với bà Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 08-4-2012 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự
- Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Trần T về việc yêu cầu chia tài sản.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trần T tự nguyện chịu 72.086.000đ số tiền chi phí tố tụng đã thanh quyết toán (Đã nộp đủ).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2, buộc ông Trần T, bà Nguyễn Thị N mỗi người thanh toán trả ½ số tiền 8.582.279.178đ đã vay. Trong đó ông Trần T thanh toán trả 4.291.139.589đ và bà Nguyễn Thị N thanh toán trả 4.291.139.589đ, tiếp tục chịu lãi phát phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tiếp tục duy trì biện pháp thế chấp tài sản đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AD 2020131 ngày 22/9/2020 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AD 19075/HDT ngày 04/10/2019 để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Q, buộc ông Trần T, bà Nguyễn Thị N mỗi người thanh toán trả 1/2 số tiền 6.695.048.000đ cho ông Trần Q. Trong đó ông Trần T thanh toán trả 3.347.524.000₫ và bà Nguyễn Thị N thanh toán trả 3.347.524.000đ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H1, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Bùi Thị H1 số tiền 100.000.000₫.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T2, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho ông Nguyễn Văn T9 số tiền 200.000.000₫.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H2: Buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Trần Thị H2 số tiền đã vay 420.000.000đ và số tiền đã nhận cọc 166.000.000đ và tiền phạt cọc 166.000.000đ. Tổng số tiền bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị H3 740.000.000đ. Bác yêu cầu của bà Trần Thị H2 về việc yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trả số tiền trên.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L: Buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị L số 245.000.000đ. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trà số tiền trên.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình T3, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho ông Nguyễn Đình T3 số tiền số 697.092.000đ, trong đó tiền gốc 549.000.000đ và tiền lãi 148.092.000đ.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình T3 về việc yêu cầu trả tiền lãi 316.292.500đ và yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trả số tiền 697.092.000đ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn D, buộc bà Nguyễn Thị N thanh toán trả cho ông Nguyễn D số tiền số 1.206.262.500đ, trong đó tiền gốc 950.000.000đ và tiền lãi 256.262.500đ.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn D về việc yêu cầu trả tiền lãi 543.250.000đ và yêu cầu ông Trần T cùng thanh toán trả số tiền 1.206.262.500đ.
- Về án phí: Buộc ông Trần T phải chịu 300.000đ án phí xin ly hôn, 300.000đ án phí cấp dưỡng và 115.638.000đ án phí dân sự sơ thẩm phần trả nợ. Tổng cộng ông trần T phải chịu án phí 116.238.000đ, được trừ vào số tiền 51.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006218 ngày 12/10/2021, số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006203 ngày 05/10/2021 và số tiền 21.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006426 ngày 04/01/2022 của Chi cục thi án dân sự huyện D. Còn phải nộp thêm 43.938.000₫.
Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu 118.627.018đ án phí dân sự sơ thẩm phần trả nợ.
Hoàn trả cho Ngân hàng N2, chi nhánh D2 số tiền 51.465.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006281 ngày 08/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Hoàn trả cho bà Bùi Thị H1 số tiền 2.500.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007122 ngày 21/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Hoàn trả cho ông Ngô Văn T2 số tiền 2.000.000đ theo biên lai thu số 0013952 ngày 17/4/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 6.125.000đ theo biên lai thu số 0006787 ngày 19/9/2022 của chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Hoàn trả cho bà Trần Thị H2 số tiền 17.040.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007123 ngày 22/02/2022 của chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Ông Nguyễn D phải chịu 25.730.000đ án phí phần bị bác yêu cầu, được trừ vào số tiền 24.405.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006328 ngày 26/11/2021 của chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh còn phải nộp thêm 1.325.000đ. Ông Nguyễn Đình T3 được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa ông Trần Thành và bà Nguyễn Thị Ngát
