TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HC-ST Ngày: 25-6-2025 Về việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Công Nhân;
Bà Đỗ Thị Huệ Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính đã thụ lý số: 48/2024/TLST-HC ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1977/2025/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970; (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh T - Quyền Giám đốc. (Có yêu cầu vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn Thanh H1 - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Hoàng V - Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre: Ông Nguyễn Văn Thanh H1 - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị Thu H2, sinh năm 1979; (Có yêu cầu vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, người khởi kiện ông Nguyễn Văn H trình bày:
Trước đây, vào ngày 06/7/2005, ông H đã được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là Ủy ban nhân dân huyện M) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và vợ là Lê Thị Minh L, số phát hành AC 495931, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00074 đối với thửa đất số 539, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.156m² (đất ở tại nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm 856m²), tại xã Đ, huyện M (nay là Mỏ Cày N), tỉnh Bến Tre.
Đến ngày 05/7/2013, ông H và bà L chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2 thửa đất số 2034, tờ bản đồ số 1, diện tích 430m² được đo đạc tách ra từ thửa đất số 539, tờ bản đồ số 1. Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị Thu H2, số phát hành BN745600, số vào sổ cấp GCN: CH00730 ngày 18/7/2013. Diện tích đất còn lại của ông H là 726 m².
Ngày 28/8/2014, Ủy ban nhân dân huyện M cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án VLAP cho ông H và bà L số phát hành BR 593139, số vào sổ cấp GCN: CH00929 đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.191m².
Bà L chết ngày 12/10/2023, ông H nộp hồ sơ xin nhận thừa kế của bà L. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông H, số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554 ngày 18/12/2023 có diện tích 1191,8m² là không đúng với diện tích đất còn lại của ông H, không đúng đối tượng sử dụng đất vì đất này có một phần diện tích 430m² ông H đã chuyển cho bà Huỳnh Thị Thu H2.
Do đó, nay ông H yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết: Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.191,8m², toạ lạc tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre. Do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H không đúng với diện tích đất còn lại của ông H, không đúng đối tượng sử dụng đất, đất này có một phần diện tích 430m² ông H đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2 và đề nghị Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H đúng hiện trạng đang sử dụng.
Theo Văn bản số 2233/VPĐK-TĐCG ngày 15/11/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày:
Văn phòng đăng ký đất đai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là giấy chứng nhận) cho ông Nguyễn Văn H đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554, ngày 18 tháng 12 năm 2023 dựa trên cơ sở:
- Về quy định:
- Căn cứ Điều 77, Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất dai;
- Căn cứ khoản 5 Điều 1 Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;
- Về quy trình: Thực hiện theo thủ tục cấp lại giấy chứng nhận hoặc cấp lại trang bổ sung của giấy chứng nhận do bị mất và thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng; tăng thêm diện tích do nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận thuộc Quyết định 2291/QĐ-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc công bố danh mục 32 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
- Về giấy tờ hợp pháp:
- Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12 tháng 10 năm 2023.
- Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 12 tháng 10 năm 2023.
- Bản sao giấy chứng nhận được Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Minh L số phát hành BR 593139, số vào sổ cấp GCN: CH00929 ngày 28 tháng 8 năm 2014.
- Trích lục bản đồ địa chính thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, ngày 25 tháng 11 năm 2022;
- Biên bản ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Ủy ban nhân dân xã Đ về việc kết thúc niêm yết thông báo số 308/TB-UBND ngày 08/8/2023 của Ủy ban nhân dân xã Đ về việc công khai thông báo mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số chứng thực 307, quyển số 01-SCT/HĐ,GD, được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực ngày 02 tháng 10 năm 2023.
- Tờ trình số 946/TTr-CNMCN, ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Minh L.
- Quyết định số 505/QĐ-VPDK, ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Văn phòng đăng ký đất đai về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Minh L.
Việc Văn phòng đăng ký đất đai cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn H, số phát hành DM 259510, số vào số cấp GCN: VP08554 ngày 18 tháng 12 năm 2023, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre là đúng theo quy định.
Việc yêu cầu “hủy” giấy chứng nhận số phát hành DM 259510, số vào số cấp GCN: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 18 tháng 12 năm 2023, cho ông Nguyễn Văn H, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, phải đảm bảo theo quy định tại khoản 6 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 và khoản 8 Điều 46 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2024. Nếu yêu cầu “thu hồi” giấy chứng nhận đã cấp phải thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 và khoán 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 46 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2024.
Từ những cơ sở trên, việc người khởi kiện yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận đã cấp cho ông Nguyễn Văn H đối với thửa đất nêu trên là không có cơ sở xem xét, giải quyết.
Theo Văn bản số 1877/CNMCN-ĐKĐĐ ngày 29/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre trình bày:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970, CMND số [...] và vợ Lê Thị Minh L, sinh năm 1967, CMND số [...], cùng địa chỉ thường trú: ấp T, xã Đ, huyện M (nay là huyện M), tỉnh Bến Tre được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện M) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là giấy chứng nhận) số phát hành AC 495931, số vào sổ H00074 ngày 06 tháng 7 năm 2005, thửa đất số 539, tờ bản đồ số 1, diện tích 1156m² ONT + CLN, tọa lạc tại: ấp T, xã Đ, huyện M (nay là huyện M), tỉnh Bến Tre.
Ngày 18 tháng 7 năm 2013, Chi nhánh thực hiện việc tách thửa 539, tờ bản đồ số 2 tách thành 02 thửa: thửa 2034 diện tích 430m² LNC, thửa 539 diện tích 726m² LNC, ONT. Thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2, CMND: [...], địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, thửa đất số 2034 diện tích 430 m² LNC đã chuyển nhượng theo hồ sơ số: 001398. Diện tích còn lại 726 m².
Ngày 22 tháng 10 năm 2015, Chi nhánh thực hiện thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cấp đổi theo đo đạc chính quy. Giấy chứng nhận mới là CH00929. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Văn H, CMND: [...] và bà Lê Thị Minh L, CMND: [...] số phát hành BR 593139, số vào sổ cấp GCN: CH00929, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1191,8m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm 891,8m², tại ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thủ tục cấp đổi Vlap Giấy chứng nhận có sai sót dẫn đến việc cấp lại Giấy chứng nhận mới lệch diện tích so với hiện trạng sử dụng đất.
Ngày 12 tháng 10 năm 2023, Chi nhánh tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận của ông Nguyễn Văn H, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1191,8 m² ONT + CLN, tại ấp T, xã Đ, huyện M do nhận thừa kế từ bà Lê Thị Minh L.
Đến ngày 18 tháng 12 tháng 2023, Chi nhánh thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn H số phát hành DM 259510, số vào sổ VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai cấp ngày 20 tháng 12 năm 2023, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1191,8 m² ONT + CLN, tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Nguyên nhân: Do sai sót nội nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn H, Chi nhánh thực hiện cấp đổi không trừ phần đất đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2.
Theo hồ sơ Vlap đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 02 tháng 8 năm 2013, ông Nguyễn Văn H kê khai đăng ký thửa đất số 539, tờ bản đồ số 1, diện tích 1156m² loại đất ONT + CLN. Theo số liệu đo đạc Vlap thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1191,8m², loại đất: 300m² ONT + 891,8m² CLN bao gồm cả phần diện tích 430m² đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2.
Chi nhánh thực hiện cấp đổi theo dự án V là đúng quy trình, đúng quy định, thông qua hội đồng xét duyệt là đủ điều kiện.
Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thu H2 trình bày:
Năm 2013, bà H2 có nhận chuyển nhượng một phần đất có diện tích 430m² thuộc một phần thửa đất có diện tích 1.191m² của ông H (không biết số thửa, số tờ cụ thể) tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 745600, số vào sổ cấp GCN: CH00730 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 18 tháng 7 năm 2013 đứng tên Huỳnh Thị Thu H2.
Khi thực hiện chuyển nhượng, bà H2 và ông H đã tiến hành đo đạc, cắm 04 trụ ranh để xác định phần diện tích 430m² mà bà H2 mua của ông H. Hiện 04 trụ ranh vẫn còn. Sau khi đo đạc xong, các bên làm thủ tục tách thửa, sau khi tách thửa phần đất có số thửa là 2034, tờ bản đồ số 1, diện tích 430 m² đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre. Bà H2 và ông H đã ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 2034 cho bà H2. Từ khi nhận chuyển nhượng, bà H2 đã quản lý sử dụng đất ổn định theo đúng ranh đã cắm từ năm 2013 cho đến nay.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà H2 đồng ý huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DM 259510, số vào sổ: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.191,8m², toạ lạc tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre do cấp không đúng với diện tích đất còn lại sau khi chuyển nhượng 430m² cho bà H2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm phần đất thửa 2034 của bà H2 là không đúng.
Do bận công việc, bà H2 yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt bà trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H: Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.191,8m², toạ lạc tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Tại phiên toà, người đại diện của người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thu H2 có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ông H khởi kiện đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.191,8m², toạ lạc tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre. Ngày 15/7/2024, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có văn bản số 1402/VPĐK-TĐCG có nội dung: “Văn phòng đăng ký đất đai không thông báo thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho ông Nguyễn Văn H được. Đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M hướng dẫn ông Nguyễn Văn H liên hệ cơ quan có thẩm quyền (Toà án nhân dân) để được giải quyết”. Ngày 09/9/2024, Toà án nhận được đơn khởi kiện của ông H yêu cầu Toà án huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, thời hiệu khởi kiện 01 năm từ ngày 15/7/2024 khi ông H biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm vẫn còn.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Đối tượng khởi kiện của ông H là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn H ngày 18/12/2023 đối với thửa đất 191 là Quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước cấp tỉnh. Căn cứ theo quy định tại Điều 30, 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[4] Về tính hợp pháp và căn cứ của quyết định hành chính: Xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191 đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Điều 77, Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất dai; khoản 5 Điều 1 Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Quyết định 2291/QĐ-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc công bố danh mục 32 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
- Về nội dung của quyết định hành chính: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Văn H đối với thửa đất số 191 diện tích 1.191,8m², Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hồ sơ vụ án xác định thửa đất số 191 có nguồn gốc là một phần của thửa đất số 539, tờ bản đồ số 1, diện tích 1156m² ONT + CLN, tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre có quá trình biến động như sau:
Ngày 06/7/2005, ông Nguyễn Văn H và vợ là bà Lê Thị Minh L được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AC 495931, số vào sổ H00074 đối với thửa đất số 539, diện tích 1156m².
Đến ngày 18/7/2013, ông H thực hiện thủ tục tách thửa 539 thành 02 thửa gồm: thửa 2034 diện tích 430m² LNC và thửa 539 diện tích 726m² LNC, ONT. Đối với thửa 2034 diện tích 430m² LNC, ông H thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2 theo hồ sơ số: 001398. Bà H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 745600, số vào sổ cấp GCN: CH00730 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 18/7/2013 đối với thửa 2034 diện tích 430m² LNC. Diện tích thửa 539 còn lại là 726m².
Ngày 22/10/2015, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cấp đổi theo đo đạc chính quy. Giấy chứng nhận mới cấp cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Minh L số phát hành BR 593139, số vào sổ cấp GCN: CH00929 đối với thửa đất 191, diện tích 1191,8m² (đất ở tại nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm 891,8m²). Ông H thực hiện thủ tục nhận thừa kế của bà L và được cấp lại giấy chứng nhận số phát hành DM 259510, số vào sổ VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 20/12/2023 đối với thửa đất số 191 có diện tích 1191,8m².
Như vậy, ngày 18/7/2013 thửa 539 đã tách thành 02 thửa là thửa 2034 diện tích 430m² LNC và thửa 539 diện tích 726m² LNC, ONT. Thửa 2034 diện tích 430m² LNC đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2 nên diện tích thửa 539 còn lại của ông H là 726m² LNC, ONT. Tuy nhiên, khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 539 (theo đo đạc chính quy là thửa 191) vào năm 2015 thì ông H, bà L lại được cấp giấy chứng nhận cấp quyền sử dụng đất đối với thửa 191 có diện tích 1191,8 m², chênh lệch tăng 761,8m² so với diện tích đất còn lại của ông H sau khi chuyển nhượng một phần diện tích 430m² cho bà H2.
Về nội dung này, Văn bản số 1877/CNMCN-ĐKĐĐ ngày 29/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M đã xác định:
“trong quá trình thực hiện thủ tục cấp đổi Vlap Giấy chứng nhận có sai sót dẫn đến việc cấp lại Giấy chứng nhận mới lệch diện tích so với hiện trạng sử dụng đất”, và
“Nguyên nhân: Do sai sót nội nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn H, Chi nhánh thực hiện cấp đổi không trừ phần đất đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị Thu H2”.
Căn cứ Văn bản số 1877/CNMCN-ĐKĐĐ, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M đã thống nhất thừa nhận quá trình thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận cho ông H không trừ phần đất có diện tích 430m³ thuộc thửa đất 2034 mà ông H đã chuyển nhượng cho bà H2. Quá trình giải quyết vụ án, bà H2 cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H tại thửa đất 191 diện tích 1.191,8m² đã bao gồm diện tích thửa 2034 mà ông H đã chuyển nhượng cho bà H2. Hội đồng xét xử xét thấy, lời trình bày của các bên phù hợp với nhau về quá trình biến động quyền sử dụng đất của ông H và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, căn cứ vào sự thừa nhận của các bên, quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, văn bản ý kiến của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xác định thửa đất số 191, diện tích 1.191,8m² do ông H đứng tên giấy chứng nhận được cấp không đúng diện tích đất sử dụng thực tế của ông H.
Từ những phân tích trên, xét thấy ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.191,8m², toạ lạc tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu của ông H về việc đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H theo đúng hiện trạng sử dụng: Do yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H được chấp nhận, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, cần buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ xem xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H theo quy định của pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
Áp dụng Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.
Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DM 259510, số vào sổ cấp GCN: VP08554 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/12/2023 cho ông Nguyễn Văn H tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.191,8m², toạ lạc tại xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ xem xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H theo quy định của pháp luật và phù hợp với phần nhận định của bản án liên quan đến yêu cầu của người khởi kiện ông Nguyễn Văn H.
- Về án phí hành chính sơ thẩm:
2.1. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng).
2.2. H3 lại cho ông Nguyễn Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005090 ngày 01/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 12/2025/HC-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 12/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính
