Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DSST

Ngày: 18/3/2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Mạnh

Bà Nguyễn Thị Lâm

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Khúc Mỹ Anh - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên tòa: Ông Lê Thế Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 18/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2024/TL - DSST ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXX - ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: 1. Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1974 (có mặt tại phiên tòa)

2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976 (vắng mặt tại phiên tòa)

Bà Nguyễn Thị T1 ủy quyền cho ông Vũ Xuân T theo văn bản ủy quyền ngày 31 tháng 10 năm 2024 (có mặt tại phiên tòa)

Cùng địa chỉ: Thôn G - thị trấn T - huyện L - tỉnh Bắc Ninh

Bị đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1960 (có mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Thôn G - thị trấn T - huyện L - tỉnh Bắc Ninh

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1.Chị Vũ Thị S, sinh năm 1985 (con bà N) vắng mặt tại phiên tòa

2. Anh Vũ Xuân H, sinh năm 1998 (con bà N) vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng địa chỉ: Thôn G - thị trấn T - huyện L - tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì nguyên đơn là ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 có diện tích 831,2m² nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh là của bố mẹ ông bà cho ông Vũ Xuân D ( là anh ruột của T) và đã được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lần đầu) mang tên hộ ông Vũ Xuân D, do cả gia đình của ông Vũ Xuân D đi M làm kinh tế nên không có nhu cầu sử dụng, chính vì vậy năm 2022 vợ chồng ông D đã nhượng lại thửa đất trên cho vợ chồng ông bà và đến ngày 28 tháng 3 năm 2022 thì thửa đất trên được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà là ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1.

Năm 2011 bà N xây dựng nhà và làm luôn công trình phụ lấn sang thửa đất của ông D nay là thửa đất của vợ chồng ông bà. Thời điểm đó gia đình ông D đang ở M làm kinh tế không có nhà nên không biết việc bà N xây lấn chiếm sang phần đất của gia đình mình.

Năm 2022 vợ chồng ông bà xây dựng mái vòm để trồng cây xát với bức tường ở đầu hồi có công trình phụ của gia đình bà N. Lúc đó bà N đã xây dựng công trình phụ rồi, ông bà xác định các con của ông bà không đóng góp công sức gì vào thửa đất cũng như các công trình xây dựng trên đất. Năm 2023 do có ý định chuyển nhượng một phần thửa đất của gia đình mình cho người khác nên ông, bà phá dỡ mái vòm giáp với công trình phụ của bà N và yêu cầu bà N phải phá dỡ công trình phụ xây lấn chiếm sang phần đất của vợ chồng ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trả lại vợ chồng ông bà phần đất đã lấn chiếm đó nhưng bà N không nhất trí.Nay ông bà yêu cầu bà N phải phá dỡ các công trình phụ xây dựng trên phần đất lấn chiếm để trả lại vợ chồng ông bà 18,3m² đất lấn chiếm đó. Ngoài ra ông, bà không yêu cầu gì khác.

Phía bị đơn là bà Vũ Thị N trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 43 có diện tích 411,4m² nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh là của bố mẹ đẻ bà cho bà từ năm 1999. Trước đây thửa đất này là thửa đất ruộng, năm 2000 thì bà san lấp thửa đất này, đến năm 2011 thì bà xây dựng ngôi nhà trần 02 tầng và một số công trình phụ khác như hiện nay và đến năm 2017 bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Vũ Thị N được quyền quản lý và sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 43 có diện tích 411, 4m² nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Thửa đất bên cạnh là thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 có diện tích 831,2m² của ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1. Ông T và bà T1 đã xây nhà và tường bao từ lâu, đến năm 2011 thì bà mới xây nhà và công trình phụ áp sát bờ tường của ông T bà T1, lúc đó 02 bên không có ý kiến gì. Bà vẫn sử dụng đúng như hiện trạng của bố mẹ bà cho từ trước đến nay. Năm 2023 ông T, bà T1 phá bờ tường của gia đình mình đi và thuê người vào đo thì bảo bà xây công trình phụ lấn sang 18,3 m² là không có căn cứ vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp thế nào bà không biết nhưng bà vẫn sử dụng đúng hiện trạng. Hiện tại thửa đất của bà chỉ có tranh chấp với hộ ông T bà T1, ngoài ra không có tranh chấp gì với các hộ liền kề, xung quang khác. Bà xác định các con bà lúc đó còn nhỏ phải nuôi ăn học nên không đóng góp công sức gì vào thửa đất cũng như các công trình xây dựng trên đất.

Nay ông T bà T1 yêu cầu bà phải trả phá dỡ công trình phụ để trả lại 18,3m² đất thì bà không nhất trí vì thửa đất này bà vẫn sử dụng ổn định từ trước đến nay. Do vậy bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị S và anh Vũ Xuân H đều trình bày: Bố mẹ anh chị là ông Vũ Xuân Đ và bà Vũ Thị N. Bố mẹ anh chị sinh được 02 người con là Vũ Thị S và Vũ Xuân H. Năm 1999 bố mẹ anh chị ly hôn nên mẹ chuyển về nhà N1 ở và được ông bà ngoại cho thửa đất đang ở hiện nay, nguồn gốc thửa đất này là đất ruộng, năm 2000 thì mẹ anh chị san lấp thửa đất này, đến năm 2011 thì mẹ anh chị xây dựng ngôi nhà trần 02 tầng và một số công trình phụ như hiện nay và đến năm 2017 thửa đất trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Vũ Thị N được quyền quản lý và sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 43 có diện tích 411, 4m² nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Thửa đất bên cạnh nhà anh chị là thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 có diện tích 831,2m² của ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1. Ông T bà T1 đã xây nhà và tường bao từ lâu, đến năm 2011 thì mẹ anh chị mới xây nhà và công trình phụ áp sát bờ tường của ông T bà T1, lúc đó 02 bên không có ý kiến gì. Gia đình anh chị vẫn sử dụng đúng như hiện trạng của ông bà ngoại cho từ trước đến nay. Năm 2023 ông T bà T1 phá bờ tường đi và thuê người vào đo thì bảo gia đình anh chị xây công trình phụ lấn sang 18,3 m² là không có căn cứ vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp thế nào thì anh chị không biết và gia đình anh chị vẫn sử dụng đúng hiện trạng từ trước đến nay. Anh chị xác định không đóng góp công sức gì vào thửa đất cũng như các công trình xây dựng trên đất. Nay ông T bà T1 yêu cầu mẹ anh chị phải phá dỡ công trình phụ để trả lại 18,3m² đất mà gia đình anh chị đang quản lý, sử dụng thì anh chị không nhất trí vì thửa đất này gia đình anh chị vẫn sử dụng ổn định từ trước đến nay. Do vậy anh chị đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài phát biểu quan điểm cho rằng: Việc Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng thời hạn quy định của pháp luật. Việc Tòa án thu thập chứng cứ và ra các văn bản tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2, khoản 9, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, c, khoản 1, Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 228; Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29; Điều 235; Điều 236 Luất đất đai năm 2024; Điều 166; Điều 168; Điều 174; Điều 175; Điều 176; của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1: Buộc bà Vũ Thị N, chị Vũ Thị S và anh Vũ Xuân H phải phá dỡ phần công trình phụ xây lấn sang thửa đất của Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 để trả lại ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 18,3m² đất của thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

* Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

2.Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định của pháp luật.

3.Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận lẽ ra bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng bị đơn là người cao tuổi nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa.

Sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị S và anh Vũ Xuân H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Vũ Thị S và anh Vũ Xuân H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên tòa ông Vũ Xuân T vừa là nguyên đơn vừa là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà Vũ Thị N phải phá dỡ các công trình phụ xây dựng trên phần đất lấn chiếm để trả lại vợ chồng ông bà 18,3m² đất lấn chiếm. Phía bị đơn là bà Vũ Thị N thì không nhất trí và đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 có diện tích 831,2m² nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lần đầu) mang tên hộ ông Vũ Xuân D. Đến ngày 28 tháng 3 năm 2022 thửa đất trên được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (lần hai).

Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 43 có diện tích 411, 4m² nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh được Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lần đầu) mang tên hộ bà Vũ Thị N.

Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 được cấp 831,2m² nhưng diện tích hiện trạng thực tế do Công ty TNHH T4 cung cấp chỉ có 812,9m² vậy là thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 18,3m². Còn thửa đất số 77, tờ bản đồ số 43 được cấp 411, 4m² nhưng diện tích hiện trạng thực tế do Công ty TNHH T4 cung cấp là 429,7m² vậy là thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 18,3m²

Phía Ủy ban nhân dân thị trấn T và Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh huyện L cho biết:

Trình tự, thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên là đúng quy định của pháp luật.

Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên đương sự không có khiếu kiện gì.

Hiện tại chỉ có 02 hộ tranh chấp với nhau, chứ không có tranh chấp gì với các hộ liền kề, cũng như là phía mặt đường do Nhà nước quản lý. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của 02 bên đương sự cũng như phản ánh của chính quyền địa phương. Do vậy có đủ căn cứ để xác định bà Vũ Thị N xây dựng công trình phụ lấn sang thửa đất của ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 18,3m² đất. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 buộc bà Vũ Thị N phải phá dỡ các công trình phụ xây dựng trên phần đất của ông T và bà T1 để trả lại ông Vũ Xuân T2 và bà Nguyễn Thị T1 18,3m² đất của thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các điểm 5,6,7,8,9,15,16,17,18,1 (có sơ đồ kèm theo)

*Anh Vũ Xuân T3 và chị Vũ Thị Kim C là con của ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 đều trình bày: Các anh, chị không đóng góp công sức gì vào thửa đất của bố mẹ cũng như các tài sản trên đất và đều từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 là các con của ông, bà không đóng góp công sức gì vào thửa đất và tài sản trên đất nên HĐXX không đưa các anh, chị vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định của pháp luật.

* Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 đã nộp 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại Tòa án. Do vậy cần buộc bà Vũ Thị N phải có nghĩa vụ trả lại ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận lẽ ra bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng bị đơn là người cao tuổi nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2, khoản 9, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, c, khoản 1, Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 228; Điều 235; Điều 264; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29; Điều 235; Điều 236 Luất đất đai năm 2024; Điều 166; Điều 168; Điều 174; Điều 175 và Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1: Buộc bà Vũ Thị N, chị Vũ Thị S và anh Vũ Xuân H phải phá dỡ phần công trình phụ xây lấn sang thửa đất của ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 để trả lại ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 18,3m² đất của thửa đất số 66, tờ bản đồ số 43 nằm tại thôn G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các điểm 5,6,7,8,9,15,16,17,18,1 (có sơ đồ kèm theo)

2.Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc bà Vũ Thị N phải có nghĩa vụ trả lại ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

* Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Vũ Thị N

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Lương Tài;
  • - THADS huyện Lương Tài
  • (khi án có hiệu lực PL);
  • - Phòng GĐ TAND Tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DSST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 12/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger