Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 2 – NGHỆ AN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày: 30 - 9 - 2025

Về tranh chấp kiện đòi tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thư và bà Lê Thị Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Phi Thăng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2025/TLST - DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐ-HPT ngày 19/9/2025 và Thông báo số 233/TB-TA ngày 28/9/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1972

Địa chỉ: xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Nay là: xóm P (xã H cũ), xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: xóm E, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Nay là: xóm E (xã C cũ), xã L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

- Bị đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1974. Địa chỉ: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nay là: xóm Đ (xã N cũ), xã N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Trương Thị L trình bày:

Vào khoảng cuối năm 2021 và đầu năm 2022, bà Trương Thị L có nhu cầu mua đất ở tại xã N, huyện N, Nghệ An, nên qua người thân, bà L có biết ông Phạm Văn V, trú tại xã N, huyện N, Nghệ An. Qua trao đổi, Ông V hứa sẽ đứng ra mua đất cho bà Lở xã N. Bà L tin tưởng nên đã giao cho ông V tổng số tiền là 850.000.000 đồng (T1 trăm năm mươi triệu đồng). Bà L đã giao tổng cộng 6 lần số tiền này cho ông V. Do thời gian đã lâu nên không nhớ cụ thể ngày tháng giao tiền.

Mỗi lần giao tiền cho ông V, bà L được ông V viết cho một giấy biên lai thu tiền. Lần thứ nhất, giao cho ông V số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), lần thứ hai: 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng), lần thứ ba: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lần thứ bốn: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), lần thứ năm: 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Lấn thứ sáu: 25.000,000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Lần giao tiền cuối cùng vào ngày 25 tháng 2 năm 2022, ông V viết một tờ giấy với nội dung là cam kết về việc mua đất cho bà Trương Thị L. Đồng thời, ông V yêu cầu bà L giao lại cho ông V toàn bộ biên lai thu tiền trước đây, khi bà L giao tiền cho ông V. Trong giấy cam kết này thể hiện rõ là ông V đã nhận của bà L số tiền là 850.000.000 đồng (T1 trăm năm chục triệu đồng). Giấy này do chính ông V viết và ký ghi rõ tên ông V, điểm chỉ tay của ông V vào giấy này. Ông V cam kết phải có trách nhiệm mua đất cho bà L, nếu chậm thực hiện thì phải chịu tiền lãi suất. Thời gian thực hiện đến ngày 30 tháng 6 năm 2022. Nhưng quá thời hạn này, ông V vẫn không thực hiện. Bà L đã gặp ông V để yêu cầu trả lại số tiền đã nhận nói trên thì vào ngày 25 tháng 10 năm 2024, giữa Bà L với ông V có lập một biên bản cam kết sẽ trả cả gốc và lãi với tổng số tiền 955.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi lăm triệu đồng), số tiền này ông V sẽ trả trong thời hạn 50 ngày kể từ ngày 25 tháng 10 năm 2024. Chính ông V là người đã viết và ký tên vào biên bản này và hứa sẽ trả cho bà L số tiền này trong thời hạn 50 ngày kể từ ngày lập biên bản này. Nhưng đến nay, ông Phạm Văn V vẫn không thực hiện điều mình đã hứa.

Nội dung cụ thể liên quan đến thỏa thuận mua đất tại các Bản cam kết cụ thể như sau: Cuối năm 2021, bà Liên tiếp T2 nhờ ông V mua đất để bán kiếm lời. Nên đầu tháng 01/2022, ông V có dẫn bà L đi xem thửa đất tại xã N, huyện N đồng thời cho bà L xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Bà L xem thì thấy chủ đất tên là Mai Quang T3, địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ông V đưa ra thông tin chủ đất đang muốn bán thửa đất này với giá 1.100.000.000 đồng và yêu cầu đặt cọc, chuyển trước cho ông V số tiền 25.000.000 đồng để làm thủ tục, giấy tờ. Do tin tưởng nên bà L đã đưa cho ông V số tiền 25.000.000 đồng. Khoảng 15-20 ngày sau, ông V tiếp tục yêu cầu bà L chuyển tiếp 200.000.000 đồng để hoàn thiện thủ tục, sau đó ông V đưa ra nhiều lý do khác nhau như: phải chuyển tiền không chủ đất sẽ thay đổi ý định, chuyển tiền để hoàn thiện việc sang tên chuyển nhượng, ông V nhiều lần yêu cầu bà L chuyển tiền. Và từ ngày 25/02/2022 đến ngày 30/6/2022, tổng số tiền bà L đã chuyển cho ông V là 855.000.000 đồng. Vì đưa đủ số tiền này nên ngày 30/6/2022, ông V viết cho bà L Giấy cam kết với nội dung đã nhận đủ số tiền 850.000.000 đồng (bà L làm tròn số cho ông V, mặc dù thực tế thì bà L giao cho ông V là 855.000.000 đồng) của bà L và cam kết hoàn thiện thủ tục mua thửa đất và bàn giao giấy chứng nhận QSD đất cho bà L. Sau này, bà L hỏi ông đất thì ông lấy hết lý do này, lý do khác nhưng đều không thực hiện. Sau đó bà L có viết đơn tố giác ông V đến công an huyện H. Thì khi làm việc ở đây, ông V đã làm việc với bà L và ngày 25/9/2024, ngày 25/10/2024; ông V tiếp tục viết cam kết về việc trả lại cho bà L số

tiền gốc là 850.000.000 đồng và tiền lãi là 105.000.000 đồng. Nhưng từ đó đến nay, ông V không hề trả cho bà L bất cứ khoản tiền nào cả. Sau này bà L lại tiếp tục làm đơn tố cáo ông V đến cơ quan điều tra công an tỉnh N. Nhưng công an tỉnh N đã ra thông báo không có căn cứ khởi tố vụ án mà đây là quan hệ dân sự. Bà L không hề biết việc ông V có mua đất của ông Mai Quang T3 hay không; vì bà L không được biết hay tham gia vào bất cứ quá trình nào. Nay bà Liên tiếp C với tài liệu Tòa án thu thập tại cơ quan điều tra thì mới biết có việc ông V có giao dịch mua bán với ông Mai Quang V1 vào tháng ngày 24/01/2022 và có phiếu chuyển tiền từ ông V cho ông V1 số tiền 400.000.000 đồng. Nhưng việc giao dịch này là tự ông V thiết lập với ông V1, bà L không hề biết ông V1 là ai. Hơn nữa, số tiền mà bà L giao cho ông V để nhờ mua đất là 850.000.000 đồng.

Nay bà Trương Thị L yêu cầu Toà án giải quyết: buộc ông Phạm Văn V phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tiền gốc là 850.000.000 đồng (T1 trăm năm mươi triệu đồng) và khoản tiền lãi suất là 105.000.000 đồng (Một trăm linh năm triệu đồng). Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu ông V phải trả là 955.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi lăm triệu đồng).

Về án phí: đề nghị giải quyết theo quy định

2. Quá trình làm việc tại Toà án, bị đơn – ông Phạm Văn V trình bày:

Giữa ông Phạm Văn V và bà Trương Thị L có mối quan hệ làm ăn, bà L có nhờ ông V mua đất và làm hồ sơ cấp giấy CNQSD đất và nhiều việc ông V nhận ủy quyền của bà L để thực hiện thủ tục đất đai. Trong đó có lần vào ngày 25/02/2022, do bà Lép vì những lần giao tiền trước đây nên ông V có viết Giấy cam kết về việc mua đất cho bà Trương Thị L. Trong giấy này có nội dung ông V nhận của bà Trương Thị L số tiền 850.000.000 (T1 trăm năm mươi triệu đồng) để mua cho bà L thửa đất số 168 TSN tại xã N, chủ sở hữu là ông Mai Q, ông Mai Quang T3. Tuy nhiên, thực tế ông V nhận số tiền 670.000.000 đồng – nhận số tiền này để mua cho bà L 01 thửa đất trị giá 1.150.000.000 đồng (thửa đất ở xóm Đ, xã N) và công làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất cho bà L. Cụ thể: 600.000.000 đồng là tiền mua đất; 70.000.000 đồng là tiền công cấp Giấy CNQSD đất. Thời gian nhận số tiền 670.000.000 đồng là nhận trước thời gian viết giấy cam kết ngày 25/02/2022, và được nhận thành nhiều lần. Mỗi lần nhận tiền thì ông V đều viết giấy nhận tiền, và bà L đều cầm các giấy nhận tiền.

Ông V nhận số tiền 600.000.000 đồng của bà L là để thực hiện việc mua thửa đất số 168 TSN của ông Mai Quang T3 ở xóm Đ, xã N. Khi mua bán đất với ông T3 thì ông V có lập giấy tờ mua bán đất. Sau đó ông T3 đã giao bìa đỏ cho ông V và ông V đã giao bìa đỏ cho bà L. Nhưng bà L cầm bìa đỏ 1 năm và đồng thời không giao đủ tiền theo thỏa thuận mua bán (thỏa thuận giá trị là 1.150.000.000 đồng nhưng bà L mới chỉ giao 600.000.000 đồng) nên việc mua bán thửa đất này không thành. Việc mua bán đất chỉ giữa ông V và gia đình ông Mai Quang T3, còn bà L không tham gia ký kết trong việc mua bán đất này. Việc mua bán thửa đất này giữa ông V và ông Mai Quang T3 cũng không thành vì bà L không đưa đủ tiền để ông V đưa cho họ.

Do sức ép của bà L là bà L đòi lại số tiền này nên ngày 25/02/2022, ông V đã viết giấy cam kết, trong đó thể hiện ông V nhận của bà L số tiền 850.000.000 đồng; đồng thời cam kết thực hiện việc mua đất tiếp.

Do Giấy cam kết này không đúng thực tế về số tiền nhận nên ông V không thực hiện. Năm 2024, bà L có đơn tố cáo ông V lên Công an nên Công an triệu tập ông V làm việc. Và do bị Công an H đe dọa nên ông V đã ký vào Biên bản cam kết vào ngày 25/9/2024 và ngày 25/10/2024. Các Văn bản này đều được đánh máy và ông V ký; đồng thời có viết tay mấy dòng ở dưới. Trong các văn bản này ông V đều viết nội dung là ông V cam kết trả cho bà L số tiền 850.000.000 đồng cùng tiền lãi. Hẹn trả là 50 ngày kể từ ngày 25/10/2024. Mặc dù ông V viết cam kết như này nhưng thực tế thì ông V không nhận số tiền 850.000.000 đồng từ bà L.

Từ sau thời gian này, ông V chưa trả số tiền nào cho bà L. Ông V chờ quyết định của Tòa án hoặc nếu bà L nói đúng sự thật thì ông V mới trả cho bà L.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L thì ông V không đồng ý, vì:

- Các Giấy cam kết ông V viết cho bà L vào ngày 25/02/2022; ngày 25/9/2024 và ngày 25/10/2024 đều do bị ép buộc;

- Ông V chỉ nhận tổng số tiền của bà L là 670.000.000 đồng. Và số tiền này ông V đã sử dụng chi vào nhiều việc cho bà L (trả tiền thay cho bà L liên quan đến đất đai bà L mua của người khác hoặc thực hiện nghĩa vụ về đất đai). Ông V sẽ tính toán và thống kê lại tài liệu rồi yêu cầu con số cụ thể và cung cấp cho Tòa án sau.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Toà án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn không chấp hành việc hoà giải và xét xử theo Thông báo của Toà án.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị L về việc buộc ông Phạm Văn V phải trả tiền đối với các Hợp đồng cam kết cho bà Trương Thị L với số tiền là 955.000.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

[1.1]. Nguyên đơn, bị đơn tranh chấp về kiện đòi tài sản. Bị đơn cư trú tại xóm Đ, xã N, huyện N tỉnh Nghệ An - nay là xóm Đ, xã N, tỉnh Nghệ An nên căn cứ vào Điều 26, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 (sửa đổi năm 2025), Toà án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2]. Quá trình giải quyết vụ án; Toà án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy báo phiên toà cho bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về kiện đòi tài sản là tiền: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 955.000.000 đồng được bị đơn viết cam kết vào ngày 25/9/2024 và ngày 25/10/2024.

Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại Giấy cam kết về việc mua đất cho bà bà Trương Thị L được thiết lập vào ngày 25/02/2022 thể hiện nội dung: “...Vào ngày 25/02/2022, bà Trương Thị L có nguyện vọng mua đất tại N. Tôi đạ nhận số tiền của bà Trương Thị L là 850.000.000 đ (T1 trăm năm chục triệu đồng). Các cam kết với nhau: 1. Là phải có trách nhiệm mua đất. 2 là làm bìa sang tên cho bà L. 3. Nếu chậm thời gian trong mua bán như đạ thỏa thuận thì số tiền bà L đưa cho ông V phải chịu tiền lại suất theo quy định..."

Tại các Bản cam kết được thiết lập vào ngày 25/9/2024 và ngày 25/10/2024, thể hiện nội dung: Bên A (ông Phạm Văn V) đồng ý hoàn trả cho bên B (chị Trương Thị L) tổng số tiền là 955.000.000 đồng (chín trăm năm mươi lăm triệu đồng), trong đó bao gồm: 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc và 105.000.000 đồng (Một trăm linh năm triệu đồng) tiền lãi trước ngày 25/10/2024 (đối với Giấy cam kết ngày 25/9/2024) và trước ngày 15/12/2024 (đối với Giấy cam kết ngày 25/10/2025). Đây là số tiền mà ông Phạm Văn V hoàn trả lại cho chị Trương Thị L do không thực hiện cam kết được mua mảnh đất ông Mai Quang T3 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Các bên đều ký và viết tên vào các Giấy cam kết.

Ông V cho rằng các Giấy cam kết ông V viết cho bà L vào ngày 25/02/2022; ngày 25/9/2024 và ngày 25/10/2024 đều do bị ép buộc; Ông V chỉ nhận tổng số tiền của bà L là 670.000.000 đồng. Và số tiền này ông V đã sử dụng chi vào nhiều việc cho bà L (trả tiền thay cho bà L liên quan đến đất đai bà L mua của người khác hoặc thực hiện nghĩa vụ về đất đai). Ông V sẽ tính toán và thống kê lại tài liệu rồi yêu cầu con số cụ thể và cung cấp cho Tòa án sau. Tuy nhiên, ông V không đưa ra được tài liệu nào chứng minh cho những việc mà ông trình bày trên cũng không

cung cấp bất cứ tài liệu gì mặc dù ông V đã được Toà án báo làm việc, hoà giải nhiều lần. Ông Phạm Văn V cho rằng ông bị ép buộc khi ký kết các giấy cam kết với bà L nhưng thời điểm ký kết 03 giấy ở nhiều thời điểm khác nhau, nội dung của các văn bản đều có cùng về một nội dung và tại Công an tỉnh N ông cũng thừa nhận ông ký kết cam kết và có nhận của bà L số tiền 850.000.000 đồng để thực hiện việc mua đất cho bà L nên không có căn cứ để xác định việc ký kết các Cam kết là do ông V bị ép buộc.

Mặt khác, lời khai của bà L phù hợp với nhau trong quá trình giải quyết tố cáo tại Cơ quan điều tra công an tỉnh N và tại Toà án nhân dân khu vực 2 – Nghệ An. Đồng thời, Toà án tiến hành thu thập các chứng cứ là hồ sơ giải quyết tố cáo của bà L tại phòng CSHS công an tỉnh N, xác minh tại UBND xã N, tỉnh Nghệ An cung cấp thông tin về việc thửa đất 168, tờ bản đồ 43 tại xóm Đ, xã N cũ từ năm 2022 đến nay không có tranh chấp; Chi nhánh VP đăng ký đất đai huyện N cung cấp thông tin thửa đất 168, tờ bản đồ 43 tại xóm Đ, xã N cũ hiện nay chưa được cấp Giấy CNQSD đất.

Như vậy, xét tại thời điểm thực hiện giao dịch và cam kết các bên đều có năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung cam kết không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, hình thức giao dịch và cam kết được lập thành văn bản. Do đó, căn cứ Điều 117 của Bộ luật Dân sự, các cam kết trả lại tiền giữa bà Trương Thị L và ông Phạm Văn V là hợp pháp.

Quá trình thực hiện giao dịch và cam kết; ông Phạm Văn V cho rằng bà L không đưa đủ tiền cho ông (1.100.000.000 đồng) nên ông không thực hiện được việc mua đất; và khi không thực hiện được việc mua đất thì ông V trình bày là số tiền bà L đưa (850.000.000 đồng) ông đã mua đất hết nên không có trả lại cho bà L; khi thì cho rằng ông chỉ nhận 600.000.000 đồng; và khi thì khai là mình đã thực hiện nhiều việc cho bà L nên đã khấu trừ số tiền bà L đưa cho ông. Ông Phạm Văn V thừa nhận có thực hiện việc mua hộ đất của ông Mai Quang T3 cho bà Trương Thị L và có thực hiện việc chuyển tiền cho ông Mai Quang V1 với số tiền 400.000.000 đồng vào tháng 01/2022. Tuy nhiên, ông V cũng thừa nhận việc mua bán giữa ông và ông V1, bà L không biết. Như vậy, lời khai của ông V là không thống nhất và ông V cũng không đưa được ra tài liệu chứng minh. Đồng thời, đến thời điểm hiện nay, ông V cũng không thực hiện được việc mua hộ đất cho bà L theo cam kết của ngày 25/02/2022 và cũng không thực hiện được việc trả lại tiền theo Cam kết ngày 25/10/2024 (cam kết trả tiền gốc, lãi vào ngày 25/12/2024); do đó ông V đã vi phạm nghĩa vụ theo nội dung thoả thuận.

Xét về tiền gốc: từ các nhận định trên thì có đủ cơ sở khẳng định ông Phạm Văn V nhận của bà Trương Thị L số tiền 850.000.000 đồng.

Về tiền lãi được thể hiện trong các Bản cam kết: Theo nội dung tại bản cam kết ngày 25/02/2022 thể hiện nội dung “nếu chậm thực hiện nội dung thoả thuận theo cam kết thì ông V chịu lãi suất theo quy định”. Từ thời gian thiết lập văn bản này cho đến thời điểm ngày 25/9/2024 thì ông V không thực hiện được cam kết mua đất cho bà L. Do đó tiền lãi của bà L được tính từ ngày 30/6/2022 (là ngày các

bên ấn định thời hạn trong bản cam kết ngày 25/02/2022). Mặc dù mức lãi suất các bên không thoả thuận cụ thể, nên căn cứ vào Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất theo quy định là 10%/năm. Từ 30/6/2022 đến ngày 25/9/2024 (tương đương 02 năm 03 tháng) thì tiền lãi được xác định tương đương 21.165.000 + 170.000.000 = 191.165.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định nhiều hơn nhiều số với số tiền lãi các bên thoả thuận trong bản cam kết ngày 25/9/2024 và ngày 25/10/2024 (105.000.000 đồng) – là có lợi cho bị đơn nên cần chấp nhận số tiền lãi các bên đã thoả thuận trong các bản cam kết này.

Do đó yêu cầu của bà L là buộc ông V phải trả cho bà L số tiền gốc và lãi là 955.000.000 đồng có cơ sở chấp nhận.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.4]. Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 117, Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 201, Điều 227, Điều 228, Điều 271 đến Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (sửa đổi năm 2025);
  • - Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L.
  2. Buộc ông Phạm Văn V phải có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị L số tiền 955.000.000 đồng (Chín trăm năm mươi lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa

thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí:

- Buộc ông Phạm Văn V phải chịu 40.650.000 (Bốn mươi triệu, sáu trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại cho bà Trương Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.325.000 (Hai mươi triệu, ba trăm hai lăm nghìn) đồng theo B lại thu số 0010577 ngày 23/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nay là Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

  1. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 2 -Nghệ An;
  • - THADS tỉnh NA;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – NGHỆ AN về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án kiện đòi tài sản Liên Vinh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger