|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/DS - ST Ngày: 30-06 - 2025
“V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- ông Nguyễn Văn Dũng.
- ông Nguyễn Thế Anh
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2022/TLST- DS ngày 24 tháng 01 năm 2022 về "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXX - ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H (viết tắt là M).
Địa chỉ: số E, N, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L; Chức vụ: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Đặng Hồng T, sinh năm 1980.
Chức vụ: Giám đốc XLN KHCNTC cấp 1- PHòng XLNKHCN Tín chấp- NHQLTD-MSB (theo giấy ủy quyền ngày số 2245/2025/GUQ-TGDD2 ngày 03/03/2025. (có mặt).
- Bị đơn: ông Trần Quốc D, sinh năm 1991. (vắng mặt)
Trú tại: xóm A, xã D (xã H), huyện D, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/05/2020, trong quá trình giải quyết vụ án, các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Ngày 16/09/2017, Ngân hàng TMCP H – Chi nhánh Đ và ông Trần Quốc D đã ký kết Hợp đồng cho vay số 23UL/2017/HĐCV có nội dung như sau: Số tiền vay vốn: 185.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Tiêu dùng cá nhân và gia đình; Thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất cho vay: theo mức lãi suất thỏa thuận tại KHNN (19%/năm áp dụng từ ngày giải ngân cho đến ngày 05/11/201; các kỳ tiếp lãi suất được điều chỉnh ngày 06 hàng tháng và tính bằng lãi suất cơ sở quy định từng thời kỳ cọng biện độ 4%/năm); Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn; Nợ gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ gốc thực tế giảm dần; Số kỳ trả gốc: 60 kỳ, ngày trả gốc đầu tiền 06/11/2017; các kỳ trả nợ tiếp theo 01 tháng/lần vào ngày 06 hàng tháng. Số tiền trả gốc mỗi kỳ 3.083.333 đồng, kỳ cuối trả tất toán nợ. Thực hiện theo nội dung của Hợp đồng cho vay số 23UL/2017/HĐCV ngày 16/09/2017, M đã giải ngân cho ông Trần Quốc D theo khế ước nhận nợ số 23UL/2017/KUNN với số tiền 185.000.000 đồng; Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, ông Trần Quốc D đã thanh toán được tổng số tiền 26.544.200 đồng. Trong đó trả nợ gốc: 12.719.332 đồng; Trả nợ lãi: 13.770.338 đồng và lãi quá hạn 54.530 đồng và ông D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, dẫn đến khoản vay bị nợ quá hạn kéo dài (quá hạn từ ngày: 06/03/2018). Mặc dù, MSB đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần nhưng ông Trần Quốc D vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho MSB, làm xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp MSB; Tạm tính đến ngày 30/06/2025, ông Trần Quốc D còn nợ tổng số tiền là 525.089.611 đồng Cụ thể: Nợ gốc: 172.280.668 đồng; nợ lãi: 262.746.355 đồng; lãi quá hạn: 90.062.588 đồng; Vì vậy Ngân hàng TMCP H yêu cầu Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Buộc ông Trần Quốc D phải trả cho Ngân hàng TMCP H số tiền tính đến ngày 30/06/2025 là 525.089.611 đồng (năm trăm hai mươi lăm triệu không trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm mười một đồng). Cụ thể: Nợ gốc: 172.280.668 đồng; nợ lãi: 262.746.355 đồng; lãi quá hạn: 90.062.588 đồng. Kể từ ngày 01/07/2025, ông Trần Quốc D còn phải chịu phí và lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay số 23UL/2017/HĐCV, Khế ước nhận nợ số 23UL/2017/KUNN ký ngày 06/09/2017 cho đến khi ông Trần Quốc D thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trần Quốc D, đã được Tòa án tống đạt hợp pháp nhưng không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H, cụ thể:
- Buộc ông Trần Quốc D phải trả cho Ngân hàng TMCP H khoản nợ theo Hợp đồng cho vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/06/2025 tổng số tiền là 525.089.611 đồng (năm trăm hai mươi lăm triệu không trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm mười một đồng) (trong đó tiền gốc: 172.280.668 đồng (một trăm bảy mươi hai triệu hai trăm tám mươi nghìn sáu trăm sáu mươi tám đồng) và tiền lãi trong hạn là: 262.746.355 đồng, lãi quá hạn là: 90.062.588 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: ông Trần Quốc D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về “hợp đồng tín dụng” và quy định tại khoản 3 điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Trần Quốc D có địa chỉ cư trú tại xóm A, xã D (xã H), huyện D, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- [2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bị đơn ông Trần Quốc D đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung yêu cầu của Nguyên đơn:
- [2.1]. Xét về tính hợp pháp của Hợp đồng cho vay: Hợp đồng cho vay số số 23UL/2017/HĐCV ngày 16/09/2017 đều được lập thành văn bản, có chữ ký của người đại diện hợp pháp của M và ông Trần Quốc D. Các bên ký kết hợp đồng trên tinh thần tự nguyện, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Điều 17 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
- [2.2]. Về việc thực hiện hợp đồng: Sau khi ký kết hợp đồng nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ cho vay theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay. Việc này đã được chứng minh bắng các giấy giải ngân; bản tự khai của nguyên đơn, và lời khai tại phiên tòa, thể hiện bị đơn đã vay tiền của nguyên đơn. Nhưng khi đến hạn trả nợ, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các thỏa thuận đã ký tại Hợp đồng cho vay và vi phạm quy định tại các điều 280, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- [2.4]. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng số tiền 26.544.200 đồng. Trong đó trả nợ gốc: 12.719.332 đồng; Trả nợ lãi: 13.770.338 đồng và lãi quá hạn 54.530 đồng; ông Trần Quốc D vi phạm hợp đồng là từ ngày 06/3/2018. Tổng số tiền bị đơn còn nợ MSB tính đến ngày 30/06/2025 số tiền là 525.089.611 đồng (năm trăm hai mươi lăm triệu không trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm mười một đồng) (trong đó tiền gốc: 172.280.668 đồng (một trăm bảy mươi hai triệu hai trăm tám mươi nghìn sáu trăm sáu mươi tám đồng) và tiền lãi trong hạn là: 262.746.355 đồng, lãi quá hạn là: 90.062.588 đồng).
- [2.5]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ, cần được chấp nhận. Buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 30/6/2025 tổng số tiền 525.089.611 đồng (năm trăm hai mươi lăm triệu không trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm mười một đồng) (trong đó tiền gốc: 172.280.668 đồng (một trăm bảy mươi hai triệu hai trăm tám mươi nghìn sáu trăm sáu mươi tám đồng) và tiền lãi trong hạn là: 262.746.355 đồng, lãi quá hạn là: 90.062.588 đồng).
- [2.6] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- [3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng TMCP H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- [4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H cụ thể:
- Buộc ông Trần Quốc D phải trả cho Ngân hàng TMCP H đến ngày xét xử sơ thẩm 30/06/2025 tổng số tiền 525.089.611 đồng (năm trăm hai mươi lăm triệu không trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm mười một đồng) (trong đó tiền gốc: 172.280.668 đồng (một trăm bảy mươi hai triệu hai trăm tám mươi nghìn sáu trăm sáu mươi tám đồng) và tiền lãi trong hạn là: 262.746.355 đồng, lãi quá hạn là: 90.062.588 đồng) theo Hợp đồng cho vay số 23UL/2017/HĐCV ngày 16/09/2017.
- Về án phí:
- - Ông Trần Quốc D phải chịu 25.003.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm linh ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Trả lại cho Ngân hàng TMCP H số tiền tạm ứng án phí 6.561.000 đồng (sáu triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009752 ngày 07/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
- Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Thị Kim Dung |
Bản án số 12/2025/DS - ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 12/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
