Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Số: 12/2025/DS- ST

Ngày: 28/02/2025

V/v: “Tranh chấp Đòi tài sản”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Điền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Phước Đức
  2. Ông Nguyễn Phước Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2023/TLST- DS, ngày 04 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp Đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/QÐST- DS, ngày 09/01/2025; và Quyết định hoãn phiên tòa số 43B/QÐST- DS, ngày 10/02/2025, giữa:

* Nguyên đơn: Ông Bàng Tiến Q, sinh năm 1974, vắng mặt.

Địa chỉ: Tòa P 7-31-19, khu V (GĐ), P, Q. B, TP ..

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Vũ H, sinh năm 1992, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Số A, đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Ông Mai Văn K, sinh năm 1975, vắng mặt.

Địa chỉ: 302 Nguyễn Trung Trực, khu phố 11, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1973.

Địa chỉ: C N, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bàng Tiến Q ủy quyền cho ông Nguyễn Vũ H trình bày:

Nguyên trước đây do có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại P để lập dự án cho Công ty, được sự giới thiệu của người quen, ông Q gặp ông Mai Văn K (ông K tự giới thiệu là người có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất tọa lạc tại khu vực V, thuộc ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang). Sau vài lần tiếp xúc làm việc, ông K hứa hẹn và cam kết sẽ chuyển nhượng thửa đất của ông K tọa lạc tại khu vực V thuộc ấp D, xã C nói trên cho ông Q và hứa sẽ thực hiện các công việc liên quan đế đến chuyển mục đích sử dụng đất, xin lập dự án cho Công ty bên ông Q.

Ngày 26/11/2021, ông Q và ông Mai Văn K lập giấy ủy quyền với nội dung: “ông Q mua đất của ông Mai Văn K tọa lạc tại V, thuộc ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Diện tích ngoài ranh rừng: 23.238m², trong ranh rừng: 22.000m². Tổng diện tích là 45.282m². Tổng diện tích ngoài ranh rừng được ông K chuyển nhượng lại cho ông Q với giá 500.000đồng/công. Tổng cộng 23 công với giá là 11.500.000.000đồng (mười một tỷ, năm trăm triệu đồng). ông K chịu trách nhiệm thay mặt ông Q liên hệ làm việc với cơ quan Nhà mước có thẩm quyền để xin chủ trương dự án và trông coi đất cho ông Q đến khi Dự án được chấp nhận chủ trương”, Sau khi ký giấy ủy quền nêu trên, ông Q đã chuyển khoản cho ông K nhiều lần, cụ thể:

  • Ngày 26/11/2021, ông Q có chuyển tiền cho ông 2 lần với tổng số tiền là 500.000.000đồng (Năm trăm triệu đồng);
  • Ngày 28/12/2021 ông Q có chuyển tiền cho ông K 2 lần với tổng số tiền là 600.000.000đồng (Sáu trăm triệu đồng);
  • Ngày 26/01/2022, ông Q có chuyển tiền cho ông K 1 lần với số tiền là 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng);

Tổng cộng các lần chuyển là 1.400.000.000đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng). Sau khi nhận được tiền ông K không thực hiện các công việc như đã cam kết trong nội dung giấy ủy quyền và cũng không có đất để chuyển nhượng cho ông Q. Do đó, ông Q đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông K trả lại số tiền nêu trên nhưng ông K cứ mãi hứa hẹn, sau đó trốn tránh cho đến nay vẫn chưa trả tiền cho ông Q.

Tại phiên tòa, người đại giện theo ủy quyền của ông Bàng Tiến Q làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Mai Văn K phải có trách nhiệm trả cho ông Bàng Tiến Q số tiền là 1.400.000.000đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) và tính lãi suất chậm trả đối với số tiền 1.400.000.000đồng với mức lãi suất 0,83%/tháng tính tròn từ ngày 01/10/2023 đến ngày 01/02/2025 là 16 tháng với số tiền lãi chậm trả là 185.920.000đồng (tức 1.400.000.000đồng X 0,83% X 16 tháng= 185.920.000đồng).

Tổng số tiền ông Mai Văn K phải trả cho ông B Tiến Quân là 1.585.920.000đồng (Một tỷ, năm trăm tám mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).

* Tại biên bản tự khai và ý kiến về yêu cầu khởi kiện đề ngày 19/12/2024, ông Mai Văn K trình bày như sau:

Về giấy ủy quyền: Qua tài liệu phía nguyên đơn cung cấp tại Tòa án, phía nguyên đơn cung cấp cũng như trình bày về giấy ủy quyền ghi ngày 26/11/2021 gồm có 2 trang, trang thứ nhất không có ký tên giáp lai, trang thứ hai không có chữ ký của người ủy quyền, do đó giấy ủy quyền này không có giá trị.

Thứ hai: Đối với số tiền ông Q đòi ông, ông công nhận ông Q có chuyển tiền cho vào các đợt:

  • Ngày 26/11/2021, ông Q có chuyển tiền cho ông 2 lần với tổng số tiền là 500.000.000đồng (Năm trăm triệu đồng);
  • Ngày 28/12/2021 ông Q có chuyển tiền cho ông 2 lần với tổng số tiền là 600.000.000đồng (Sáu trăm triệu đồng);
  • Ngày 26/01/2022, ông Q có chuyển tiền cho ông 1 lần với tổng số tiền là 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng);

Tổng cộng các lần chuyển là 1.400.000.000đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng), khi chuyển tiền ông Q ghi “Em Q chuyển khoản anh K”.

Số tiền này, sau đó ông Q vào ông K có đưa lại cho ông Q bằng tiền mặt. Do đó, ông Q đòi số tiền này và lãi suất 0,83%/tháng là không có cơ sở. Từ nhận định trên ông K đề nghị Tòa bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Q.

Tại biên bản làm việc đề ngày 25/11/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N trình bày như sau:

Bà nen hiện tại là vợ của ông Mai Văn K và đã chung sống hơn 10 năm nay nhưng chưa đăng ký kết hôn.

Đối với yêu cầu của ông Bàng Tiến Q thì bà cho rằng hoàn toàn không biết và liên quan gì đến việc làm ăn của ông K với ông Q, tự các ông làm ăn với nhau, không cho bà biết, mọi việc ông K tự giải quyết, không liên quan gì đến bà. Đồng thời bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà cho đến khi vụ án kết thúc.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc có ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật như: Thụ lý đúng thẩm quyền; Thẩm phán đã thực hiện việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự đúng theo quy định, xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các bước tiến hành thủ tục phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo được tính khách quan của vụ án.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Riêng đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã quá thời gian theo quy định pháp luật nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án, thẩm phán cần rút kinh nghiệm chung;

Về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 165, Điều 166 BLDS năm 2015; khoản 1 Điều 6, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 93 BLTTDS năm 2015, đề nghị HĐXX:

  • + Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bàng Tiến Q đối với bị đơn ông Mai Văn K.
  • + Buộc ông Mai Văn K có nghĩa vụ trả lại cho ông B Tiến Quân số tiền là 1.400.00.00đồng và tiền lãi suất chậm trả đối với số tiền 1.400.000.000đồng trong thời gian từ ngày 01/10/2023 đến ngày 01/02/2025 là 16 tháng với số tiền là (1.400.000.000đồng x 0.83% x 16 tháng) = 185.920.000đồng.

Tổng số tiền ông Mai Văn K có nghĩa vụ trả cho ông B Tiến Quân với số tiền là 1.585.920.000 đồng (Một tỷ, năm trăm tám mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định.

[I]. Về thủ tục: Tại phiên tòa Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn ông Mai Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ phiên tòa lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông K.

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện và ý kiến trình bày của bị đơn, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp Đòi lại tài sản, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc về vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án sẽ rút kinh nghiệm chung.

[II] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bàng Tiến Q:

Buộc ông Mai Văn K phải có trách nhiệm trả cho ông Bàng Tiến Q số tiền là 1.400.000.000đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) và tính lãi suất chậm trả đối với số tiền 1.400.000.000đồng với mức lãi suất 0,83%/tháng tính tròn từ ngày 01/10/2023 đến ngày 01/02/2025 là 16 tháng với số tiền lãi chậm trả là 185.920.000đồng (tức 1.400.000.000đồng X 0,83% X 16 tháng= 185.920.000đồng).

Tổng số tiền ông Mai Văn K phải trả cho ông B Tiến Quân là 1.585.920.000đồng (Một tỷ, năm trăm tám mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng) là có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ:

Sau khi đạt được sự thống nhất thỏa thuận, ông K hứa hẹn và cam kết sẽ chuyển nhượng thửa đất của ông K tọa lạc tại khu vực V thuộc ấp D, xã C nói trên cho ông Q và hứa sẽ thực hiện các công việc liên quan đế đến chuyển mục đích sử dụng đất, xin lập dự án cho Công ty bên ông Q.

Ngày 26/11/2021, ông Q và ông Mai Văn K lập giấy ủy quyền với nội dung: “ông Q mua đất của ông Mai Văn K tọa lạc tại V, thuộc ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Diện tích ngoài ranh rừng: 23.238m², trong ranh rừng: 22.000m². Tổng diện tích là 45.282m². Tổng diện tích ngoài ranh rừng được ông K chuyển nhượng lại cho ông Q với giá 500.000.000đồng/công. Tổng cộng 23 công với giá là 11.500.000.000đồng (mười một tỷ, năm trăm triệu đồng). Ông K chịu trách nhiệm thay mặt ông Q liên hệ làm việc với cơ quan Nhà mước có thẩm quyền để xin chủ trương dự án và trông coi đất cho ông Q đến khi Dự án được chấp nhận chủ trương” nhưng ông K không thực hiện cam kết với ông Q.

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Bàng Tiến Q và tại bản tự khai của bị đơn ông Mai Văn K đều khẳng định: Ông Q đã chuyển khoản cho ông K qua nhiều lần, cụ thể:

  • Ngày 26/11/2021, ông Q có chuyển tiền cho ông 2 lần với tổng số tiền là 500.000.000đồng (Năm trăm triệu đồng);
  • Ngày 28/12/2021 ông Q có chuyển tiền cho ông K 2 lần với tổng số tiền là 600.000.000đồng (Sáu trăm triệu đồng);
  • Ngày 26/01/2022, ông Q có chuyển tiền cho ông K 1 lần với tổng số tiền là 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng);

Tổng cộng các lần chuyển là 1.400.000.000đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) đây là nội dung không cần phải chứng minh được quy định tại Điều 92 BLTTDS. Tuy nhiên, ông K cho rằng toàn bộ số tiền đã nhận nêu trên ông có đưa lại cho ông Q bằng tiền mặt nhưng không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh cho việc ông K có trả lại tiền cho ông Bàng Tiến Q, cũng không có phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mặt dù đã được Tòa giải thích pháp luật nhưng vẫn không thực hiện.

Trong nội dung văn bản trình bày ý kiến tại phiên tòa đề ngày 24/02/2025, phía nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn ông Mai Văn K có nghĩa vụ trả tổng số tiền 1.585.920.000đồng. Phù hợp với lời trình bày của bà Vũ Thị N là bà và ông Mai Văn K tuy có chung sống với nhau như vợ chồng nhưng giữa ông bà không có đăng ký kết hôn, bà không biết việc làm ăn của ông K. Do đó, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với bà N được quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2914. Hội đồng xét xử không buộc bà N có trách nhiện liên đới để cùng ông K phải trả số tiền này cho ông Q.

Do đó, buộc ông Mai Văn K phải có nghĩa vụ trả cho ông B Tiến Quân tổng số tiền 1.585.920.000đồng. Trong đó, số tiền gốc là 1.400.000.00đồng và tiền lãi suất chậm trả là 185.920.000đồng là phù hợp quy định pháp luật.

[III] Về án phí:

Nguyên đơn ông Bàng Tiến Q không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 27.000.000 đồng mà ông Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004276, ngày 11/12/2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

Bị đơn ông Mai Văn K phải nộp số tiền án phí là: 1.585.920.000 đồng= 72.000.000đồng+ (3% x 785.920.000đồng) = 72.000.000+ 23.577.600đồng= 95.577.600 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 5, 26, 35, 39, 92, 227, 228, 264, 266, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 166, 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • + Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bàng Tiến Q đối với bị đơn ông Mai Văn K.
  • + Buộc ông Mai Văn K có nghĩa vụ trả lại cho ông B Tiến Quân số tiền gốc là 1.400.000.000 đồng và tiền lãi suất chậm trả là (1.400.000.000đồng x 0,83% x 16 tháng)= 185.920.000đồng. Tổng số tiền ông K phải trả cho ông B Tiến Quân là 1.585.920.000đồng (Một tỷ, năm trăm tám mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).

Về án phí:

Nguyên đơn ông Bàng Tiến Q không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 27.000.000 đồng mà ông Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004276, ngày 11/12/2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

Bị đơn ông Mai Văn K phải nộp số tiền án phí là: 1.585.920.000 đồng= 72.000.000đồng+ (3% x 785.920.000đồng) = 72.000.000 + 23.577.600đồng= 95.577.600 đồng (chín mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn thi hành án bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - THA thành phố Phú Quốc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Thanh Điền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS- ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 12/2025/DS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chap doi tai san
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger