TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/DS-ST
Ngày: 17-6-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Đình Thuận
Các hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đức Danh
Ông Lê Thế Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Hữu Dương – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã nghi S, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Khắc M, sinh năm 1975 (có mặt)
Bà Lê Thị T, sinh năm 1979 (có mặt)
Đều trú tại: Tổ dân phố H, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải tại Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, nguyên đơn ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T trình bày:
Gia đình ông làm nghề buôn bán lợn nhập cho các đầu mối làm nghề mổ lợn để bán. Vợ chồng ông và bà Nguyễn Thị S1 có thoả thuận miệng với nhau về việc vợ chồng ông có nhập lợn cho bà Nguyễn Thị S1. Trong các năm 2021, 2022, 2023, 2024, gia đình ông có bán lợn cho bà Nguyễn Thị S1. Trong quá trình mua bán lợn từ năm 2021 đến năm 2024 bà Nguyễn Thị S1 còn nợ vợ chồng khoản nợ hai bên đã xác định khoản nợ cụ thể như sau: Năm 2021 bà S1 nợ vợ chồng ông 135.000.000đ; năm 2022 bà S1 nợ vợ chồng ông số tiền 442.000.000đ; năm 2023 bà S1 nợ vợ chồng ông 223.000.000đ; năm 2024 bà S1 nợ vợ chồng ông 326.000.000đ. Tổng số nợ bà S1 còn nợ tiền mua lợn của vợ chồng ông là 1.126.000.000đ.
Ông bà đã nhiều lần yêu cầu bà S1 phải có trách nhiệm trả cho ông bà khoản tiền trên nhưng bà S1 không trả, ông bà đã làm đơn đến Công an phường H, Công an thị xã N để yêu cầu bà S1 phải trả, quá trình làm việc tại Công an phường H bà S1 thừa nhận có nợ vợ chồng ông khoản nợ trên và hứa sẽ trả mỗi tháng là 300.000đ, nhưng bà S1 đã không thực hiện như đã viết giấy cam kết. Việc bà S1 không trả đã gây thiệt hại cho gia đình ông. Nay ông khhởi kiện đến Toà án yêu cầu bà S1 phải có trách nhiệm trả nợ cho gia đình ông số tiền bà S1 còn nợ lại do việc mua bán lợn là 1.126.000.000đ, ông bà không yêu cầu tính lãi suất.
* Bà Nguyễn Thị S1 trình bày: Bà làm nghề mổ lợn để bán, năm 2021 bà có thoả thuận với vợ chồng ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T là vợ chồng ông M, bà T nhập lợn cho bà để bà mổ bán lẻ. Quá trình mua bán với nhau hiện tại bà có nợ lại vợ chồng ông M, bà T cụ thể: Năm 2021 bà nợ vợ chồng ông M 135.000.000đ; năm 2022 bà nợ vợ chồng ông M số tiền 442.000.000đ; năm 2023 bà nợ vợ chồng ông M 223.000.000đ; năm 2024 bà S1 nợ vợ chồng ông M 326.000.000đ. Tổng số nợ bà còn nợ tiền mua lợn của vợ chồng ông M, bà T số tiền là 1.126.000.000đ. Bà đồng ý sẽ trả khoản nợ trên cho vợ chồng ông M, nhưng hiện nay do buôn bán khó khăn, bà không thể trả khoản nợ trên cho vợ chồng ông M một lần, bà sẽ có trách nhiệm trả làm nhiều đợt, mỗi tháng trả 6.000.000đ/1 tháng.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Quá trình nhận hồ sơ, thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán đã chấp hành và tuân theo đúng quy định, những người tham gia tố tụng dân sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn tại phiên toà, xác định bà Nguyễn Thị S1 và vợ chồng ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T có thoả thuận mua bán lợn với nhau, quá trình mua bán bà S1 còn nợ lại vợ chồng ông M từ năm 2021 đến năm 2024 số tiền là 1.126.000.000đ là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 430; 440; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự. Chấp nhận đơn yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị S1 phải có trách nhiệm trả cho vợ chông ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T số tiền do mua bán lợn còn nợ lại 1.126.000.000₫.
Do ông M, bà T không yêu cầu tính lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Do yêu cầu của ông M, bà T được chấp nhận, đề nghị trả lại tiền tạm ứng án phí cho ônng M, bà T.
Bà Nguyễn Thị S1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền do mua bán lợn còn nợ lại do đó xác định quan hệ tranh chấp là “Thực hiện nghĩa vụ trả tiền”. Bị đơn có địa chỉ tại thị xã N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Từ năm 2021 đến năm 2024 vợ chồng ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T và bà Nguyễn Thị S1 có thoả thuận miệng với nhau về việc vợ chồng ông M, bà T có bán lợn cho bà Nguyễn Thị S1, cũng như việc thanh toán. Xét thấy việc thỏa thuận trên là tự nguyện, phù hợp với Điều 430 Bộ luật dân sự xác định đây là hợp đồng mua bán tài sản.
Quá trình mua bán tính từ năm 2021 đến năm 2024 thì bà S1 còn nợ lại vợ chồng ông M, bà T cụ thể như sau: Năm 2021 bà S1 nợ vợ chồng ông M 135.000.000đ; năm 2022 bà S1 nợ vợ chồng ông M số tiền 442.000.000đ; năm 2023 bà S1 nợ vợ chồng ông M 223.000.000đ; năm 2024 bà S1 nợ vợ chồng ông M 326.000.000đ. Tổng số tiền bà S1 còn nợ lại vợ chồng ông M, bà T số tiền mua lợn là 1.126.000.000đ. Bà S1 thừa nhận còn nợ lại vợ chồng ông M, bà T số tiền 1.126.000.000đ là đúng.
Do đó căn cứ vào Điều 440 Bộ luật dân sự, bà Nguyễn Thị S1 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền hàng còn thiếu cho vợ chồng ông M, bà T số tiền là 1.126.000.000₫.
Tại phiên toà bà S1 đề nghị do hiện nay việc buôn bán gặp nhiều khó khăn bà S1 không có khả năng trả toàn bộ số tiền trên, bà đề nghị sẽ trả theo định kỳ mỗi tháng là 6.000.000đ; ông M, bà T không đồng ý việc phân kỳ trả nợ mà yêu cầu bà S1 phải trả toàn bộ số tiền trên cho gia đình ông.
Ông M, bà T không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T buộc bà Nguyễn Thị S1 phải có trách nhiệm trả cho ông M, bà T số tiền là 1.126.000.000đ là phù hợp.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T được chấp nhận nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị S1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440; khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự; Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T.
Buộc bà Nguyễn Thị S1 phải trả cho ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T số tiền là 1.126.000.000đ (một tỷ một trăm hai mươi sáu triệu đồng).
Kể từ khi vợ chồng ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị S1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị S1 phải chịu 45.780.000đ (bốn mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Bà Lê Thị T được nhận lại số tiền 22.890.000đ (hai mươi hai triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0003083 ngày 03/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Đình Thuận |
Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 12/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị S1 và vợ chồng ông Bùi Khắc M, bà Lê Thị T có thoả thuận mua bán lợn với nhau, quá trình mua bán bà S1 còn nợ lại vợ chồng ông M từ năm 2021 đến năm 2024 số tiền là 1.126.000.000đ. nhưng bà S1 không trả
