|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/DS-ST Ngày: 20-3-2025 V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản và hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Tô Phú Mỹ và bà Nguyễn Thị Nguyệt Hà.
- Thư ký phiên toà:
Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 362/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024, về việc “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản và hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn:
Chị Phạm Thị Thanh P, sinh năm 1977.
Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1970.
Cùng địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Tại phiên tòa: Bà D và chị P có mặt. Anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Từ mối quan hệ quen biết nhau, ngày 16/01/2023 (âm lịch) nhằm ngày 06/02/2023 (dương lịch), bà D có cho chị Phạm Thị Thanh P cùng chồng là anh Huỳnh Văn C
vay số tiền 100.000.000 đồng. Khi vay có viết biên nhận; thời hạn vay 01 năm; thoả thuận bằng lời nói lãi suất 3% tháng. Sau khi vay, chị P trả lãi từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2024 (dương lịch), tổng số tiền 12.000.000 đồng; không có làm giấy tờ trả lãi. Vốn chưa trả.
Ngoài ra, chị P và anh C còn tham gia các dây hụi do bà D làm chủ hụi, cụ thể:
Hụi 2.000.000 đồng/tháng, ngày mãn hụi 15/8/2023 (âm lịch), nhằm ngày 29/9/2023 (dương lịch); trong dây hụi này, chị P tham gia 03 phần hụi, đã hốt đủ 03 phần hụi và còn nợ 03 tháng hụi (chết) chưa góp, số tiền 18.000.000 đồng.
Hụi 10.000.000 đồng/tháng, ngày mãn 25/12/2023 (âm lịch); trong dây hụi này, chị P tham gia 01 phần hụi, đã hốt hụi và còn nợ 09 tháng hụi (chết) chưa góp, số tiền 90.000.000 đồng.
Sau đó, giữa bà D và chị P thỏa thuận kết nợ hụi và viết tờ biên nhận ngày 15/8/2023 (âm lịch), nhằm ngày 29/9/2023 (dương lịch), nội dung: chị P còn nợ bà D tổng số tiền hụi là 110.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà D yêu cầu:
Chị P và anh C liên đới trả nợ vay và hụi, cụ thể:
* Trả vốn vay 100.000.000 đồng và tiền lãi tính từ tháng 7/2023 đến tháng 12/2024 (17 tháng), với mức lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền 14.110.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là 114.110.000 đồng.
* Trả nợ hụi 110.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi.
Đối với số tiền lãi 12.000.000 đồng mà chị P đã trả, bà D không đồng ý điều chỉnh lãi suất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bà D không còn yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn - chị Phạm Thị Thanh P và anh Huỳnh Văn C có cùng ý kiến trình bày:
Chị P và anh C thừa nhận có vay của bà Nguyễn Thị Ngọc D số tiền vốn 100.000.000 đồng; có viết biên nhận, lãi suất thỏa thuận bằng lời nói là 6.000.000đ/tháng (tương đương 6%/tháng); không xác định thời hạn vay. Sau khi vay, đã trả lãi được 15 tháng, số tiền 90.000.000 đồng nhưng khi trả lãi không có làm giấy gì. Ngoài ra, vào tháng 07/2024 có vốn trả 10.000.000 đồng cho bà D nhưng cũng không có làm giấy tờ gì. Hiện tại, chị P và anh C chỉ còn nợ bà D 90.000.000 đồng tiền vốn.
- Ngoài ra, chị P và anh C có tham gia 02 dây hụi do bà D làm chủ, cụ thể:
+ Dây hụi 10.000.000 đồng/tháng, có 20 hụi viên, tham gia 01 phần, đã hốt hụi lần thứ 05, số tiền hốt hụi được bao nhiêu không nhớ. Sau khi hốt hụi, chị P có góp hụi chết nhưng không đầy đủ và còn nợ lại số tiền hụi chết chưa góp khoảng 20.000.000 đồng.
+ Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 20 hụi viên, gia 03 phần, đã hốt hụi đủ 03 phần nhưng hụi lần thứ mấy, số tiền được bao nhiêu không nhớ. Sau khi hốt hụi, chị P có góp hụi chết hàng tháng và chỉ còn nợ lại 01 lần hụi chết chưa góp, số tiền 6.000.000 đồng.
Sau đó, giữa chị P và bà D thỏa thuận kết nợ hụi và có viết biên nhận, nội dung: chị P (cùng chống là anh C) chỉ còn nợ bà D tổng cộng 110.000.000 đồng tiền hụi.
Sau khi chốt hụi, chị P tiếp tục trả tiền hụi cho bà D nhiều lần, tổng cộng được khoảng 90.000.000 đồng nhưng không có làm giấy tờ gì. Do đó, chị P và anh C chỉ còn nợ bà D 20.000.000 đồng tiền hụi.
Vì vậy, chị P và anh C chỉ đồng trả cho bà D số tiền vốn vay 90.000.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền hụi; không đồng ý trả lãi.
Đồng thời, yêu cầu Tòa án xem xét điều chỉnh lãi suất đối với số tiền lãi 90.000.000 đồng đã trả cho bà D theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, chị P và anh C không có yêu cầu gì khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc chị Phạm Thị Thanh P và anh Huỳnh Văn C trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc D vốn vay 91.320.000 đồng và 12.885.000 đồng; tổng cộng vốn, lãi 104.205.000 đồng (tính tròn) và nợ hụi 110.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật (có văn bản phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ vay và hụi; xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản và hụi”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Tại phiên tòa, bị đơn - anh Huỳnh Văn C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án:
Bà Nguyễn Thị Ngọc D yêu cầu chị Phạm Thị Thanh P và anh Huỳnh Văn C trả vốn vay 100.000.000 đồng và 14.110.000 đồng tiền lãi; tổng cộng vốn, lãi là 114.110.000 đồng; nợ hụi 110.000.000 đồng. Tổng cộng là 224.110.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về khoản tiền vay:
[2.1.1]. Bị đơn thừa nhận có vay của nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng theo biên nhận ngày ngày 16/01/2023 (âm lịch) nhằm ngày 06/02/2023 (dương lịch). Do đó, tình tiết, sự việc này nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử xác định: chị Phạm Thị Thanh P và anh Huỳnh Văn C vay của bà Nguyễn Thị Ngọc D số tiền 100.000.000 đồng; hai bên xác lập hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch.
[2.1.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng:
Nguyên đơn xác định, bị đơn có trả lãi 04 tháng (từ tháng 3/2023 đến tháng 6/2023) được số tiền 12.000.000 đồng; vốn chưa trả. Bị đơn phản bác lời trình bày của nguyên đơn và xác định, đã trả lãi cho nguyên đơn 15 tháng được số tiền 90.000.000 đồng và trả vốn 10.000.000 đồng vào tháng 7/2024 nhưng khi trả lãi, vốn đều không có làm giấy tờ gì.
Tại khoản 2 Điều 91 bộ luật tố tụng dân sự 2015, quy định về nghĩa vụ chứng minh:
“2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó...”.
Theo đó, bị đơn có nghĩa vụ chứng minh về số tiền lãi, vốn đã trả cho nguyên đơn. Tuy nhiên, lời trình bày của bị đơn không có chứng cứ gì để chứng minh và cũng không được nguyên đơn thừa nhận. Vì vậy, lý lẽ bị đơn nêu ra là không có cơ sở chấp nhận và Hội đồng xét xử xác định: Số tiền lãi bị đơn đã trả là 12.000.000 đồng theo sự thừa nhận của nguyên đơn.
[2.1.3]. Nguyên đơn xác định, lãi suất vay thỏa thuận bằng lời nói là 3%/tháng; còn bị đơn xác định, lãi suất vay thỏa thuận là 6%/tháng và không đồng ý tiếp tục trả lãi. Như vậy, thực tế các bên có thỏa thuận lãi suất vay, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp nên căn cứ Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định mức lãi suất được áp dụng để giải quyết tranh chấp bằng 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng.
Theo đó, từ tháng 02/2023 đến tháng 6/2023, bị đơn có nghĩa vụ trả cho
nguyên đơn số tiền lãi là:
100.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 04 tháng = 3.320.000 đồng.
Vì bị đơn đã trả cho nguyên đơn 12.000.000 đồng nên sau khi cấn trừ tiền lãi phải trả 3.320.000 đồng; còn thừa 8.680.000 đồng sẽ được cấn trừ vào vốn.
Như vậy, tại thời điểm tháng 6/2023, bị đơn chỉ còn nợ nguyên đơn số tiền vốn là 100.000.000 đồng - 8.680.000 đồng = 91.320.000 đồng.
[2.1.4]. Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;...”.
Theo quy định viện dẫn nêu trên, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả vốn 100.000.000 đồng chỉ có căn cứ chấp nhận một phần. Vì vậy, bị đơn có nghĩa vụ phải trả cho nguyên đơn vốn vay còn nợ 91.320.000 đồng.
[2.1.5]. Song song đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi trên vốn vay còn nợ tính từ tháng 7/2023 đến tháng 12/2024 (tính tròn: 17 tháng), theo mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì vậy, bị đơn có nghĩa vụ phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi là:
91.320.000 đồng x 0,83%/tháng x 17 tháng = 12.885.000 đồng (tính tròn).
Tổng cộng vốn, lãi: 104.205.000 đồng (tính tròn).
[2.2]. Về khoản hụi:
[2.2.1]. Bị đơn thừa nhận có tham gia 02 dây hụi do nguyên đơn làm chủ hụi nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự về hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.
[2.2.2]. Quá trình thực hiện giao dịch:
Các bên đương sự thừa nhận: Giữa bà D và chị P có thỏa thuận kết nợ hụi và viết tờ biên nhận ngày 15/8/2023 (âm lịch), nhằm ngày 29/9/2023 (dương lịch), với nội dung: Chị P (cùng chồng là anh C) còn nợ bà D tổng số tiền hụi là 110.000.000 đồng. Như vậy, nguyên đơn không phải chứng minh tình tiết, sự việc này theo quy định của pháp luật. Từ đó xác định: Tại thời điểm ngày 29/9/2023, bị đơn còn nợ nguyên đơn 110.000.000 đồng tiền hụi.
Bị đơn cho rằng, sau ngày 29/9/2023, có trả nhiều lần cho nguyên đơn tổng số tiền hụi 90.000.000 đồng nhưng không có làm giấy tờ gì với nhau. Lời trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận và phía bị đơn cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét đối với lời trình bày này của bị đơn và xác định: Bị đơn vẫn còn nợ nguyên đơn 110.000.000 đồng tiền hụi theo biên nhận ngày 29/9/2023.
Như vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ hụi 110.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận một phần.
Đối với số tiền lãi trên nợ hụi, nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét
xử không xem xét, giải quyết.
[2.3]. Từ những nhận định nêu trên: Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn vốn vay 91.320.000 đồng và 12.885.000 đồng tiền lãi; nợ hụi 110.000.000 đồng Tổng cộng là: 214.205.000 đồng.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được chấp nhận (224.110.000 đồng - 214.205.000 đồng).
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận (214.205.000 đồng).
[4]. Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, là phù hợp với quy định của pháp luật, đúng tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; các điều 91, 92 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468, 471 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc chị Phạm Thị Thanh P và anh Huỳnh Văn C liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc D số tiền vốn vay 91.320.000 đồng và 12.885.000 đồng tiền lãi; nợ hụi 110.000.000 đồng. Tổng cộng là: 214.205.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm mười bốn triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị ngọc D phải chịu 495.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 6.060.000 đồng, bà D đã nộp theo biên lai số 0008056 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phí phải nộp. Sau khi khấu trừ, bà D được nhận lại số tiền 5.565.000 đồng.
Chị Phạm Thị Thanh P và anh Huỳnh Văn C liên đới phải chịu 10.710.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Anh |
Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản và hụi
- Số bản án: 12/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản và hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
