Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày: 18/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Ngọc Trọng
Ông Nguyễn Viết Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án Thành phố Sầm Sơn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa : Ông Đỗ Anh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2024/ TLST- DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXX- DSST ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).

Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Trí D– Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng V1.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng B– Trưởng phòng thu hồi nợ KHCN Ngân hàng V1

Người được ủy quyền lại: Ông Lường Hữu H– Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng V1. “Có mặt tại phiên tòa”.

Bị đơn:

Ông Trần Tuấn T, sinh năm: 1977. “Vắng mặt”

Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm: 1982. “Vắng mặt”

Cùng địa chỉ: TDP S, phường T, TP S, tỉnh Thanh Hóa

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị L, sinh năm: 1986. “Vắng mặt”

HKTT: TDP Khanh Tiến, P.T, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa

Địa chỉ hiện nay: SN A Hồ X, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

Ông Lê Văn C, sinh năm: 1989. “Có mặt”

HKTT: Khu phố B, phường T, TP S, tỉnh Thanh Hóa

Địa chỉ hiện nay: TDP T, Phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng:

Bà Cao Thị T1, sinh năm: 1967. “Vắng mặt”

HKTT: KP B, phường T, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa

Địa chỉ hiện nay: SN A Hồ X, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V1 trình bày:

Ngày 27/5/2022 Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T có ký kết 02 Hợp đồng cho vay số LN2204255655136 và LN2205045690231, khế ước nhận nợ vào ngày 02/6/2022 với các nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: mỗi hợp đồng là 7.000.000.000 đồng (hai hợp đồng là 14.000.000.000 đồng), mục đích vay vốn: Vay mua hoàn vốn BĐS, thời hạn vay: 300 tháng, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 9,2%/năm ( lãi suất cho vay cố định 24 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó được điều chỉnh theo từng thời điểm nhận nợ), lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Số tiền đã giải ngân của hai Hợp đồng cho vay này là 14.000.000.000 đồng thể hiện tại các khế ước nhận nợ của bà B1, ông T.

Cũng trong ngày 27/5/2022 Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T có ký kết Hợp đồng cho vay số LN2205055703530 và khế ước nhận nợ vào ngày 07/6/2022 với các nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 6.000.000.000 đồng, mục đích vay vốn: Vay mua hoàn vốn BĐS, thời hạn vay: 300 tháng, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 9,2%/năm ( lãi suất cho vay cố định 24 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó được điều chỉnh theo từng thời điểm nhận nợ), lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Số tiền đã giải ngân của Hợp đồng cho vay này là 6.000.000.000 đồng thể hiện tại khế ước nhận nợ của bà B1, ông T.

Ngày 30/11/2023 Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T có ký kết Hợp đồng cho vay số 10084075 các nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 1.270.000.000 đồng, mục đích vay vốn: Vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay: 120 tháng, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 12%/năm ( lãi suất cho vay cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó được điều chỉnh theo từng thời điểm nhận nợ), lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Số tiền đã giải ngân của Hợp đồng cho vay này là 1.270.000.000 đồng thể hiện tại việc nhận nợ trong Hợp đồng.

Ngày 10/6/2022 bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T đã ký kết với Ngân hàng hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử không có tài sản bảo đảm với hạn mức thẻ là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Phương thức thanh toán và tiền lãi theo thỏa thuận mà các bên đã ký kết.

Như vậy tổng số tiền bị đơn đã vay của Ngân hàng và Ngân hàng đã giải ngân cho bị đơn là 21.270.000.000đ (hai mốt tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng)

Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 51, tờ bản đồ số 46, diện tích sử dụng riêng: 418m², diện tích xây dựng: 347,6m² diện tích sàn: 1738m² địa chỉ: KP B, phường T, TP S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 111595, Số vào sổ cấp GCN:CH02620 QĐ: 694/QĐ-UBND do UBND Thành phố S cấp ngày 09/3/2018 mang tên bà Lê Thị L. Ngày 27/5/2022 chị Lê Thị L đã thế chấp cho ông T, ba B1 vay vốn của Ngân hàng V2 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số LN2205055703530 ngày 27/5/2023 tại Văn phòng C1, TP T, tỉnh Thanh Hóa và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T mới thanh toán được cho Ngân hàng tổng số tiền của các khoản vay trên là 3.437.669.938 đồng, trong đó tiền gốc là 75.393.441 đồng và tiền lãi là 3.362.276.497 đồng; sau đó kể từ ngày 15/4/2024 đến nay thì bà B1, ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi cho Ngân hàng, nên Ngân hàng V1 đã chuyển số nợ của ông bà sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu bà B1, ông T thanh toán, nhưng đến nay ông bà vẫn chưa thanh toán được cho Ngân hàng số tiền đã vay.

Nay Ngân hàng khởi kiện buộc ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 phải thanh toán cho Ngân hàng V1 số tiền nợ tính đến ngày 18/6/2025 của Hợp đồng cho vay số LN2205055703530 ngày 27/5/2022 là 7.101.141.613 đồng (trong đó: nợ gốc là 6.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 107.738.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 993.402.740 đồng ), Hợp đồng cho vay số 10084075 ngày 30/11/2023 là 1.459.159.649 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.210.477.392 đồng, nợ lãi trong hạn: 37.404.143 đồ ng, nợ lãi quá hạn: 211.278.114 đồng); Hợp đồng cho vay số LN2205045690231 ngày 27/5/2022 là 8.176.919.870 đồng (trong đó: nợ gốc là: 7.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 52.125.349 đồng, tiền lãi quá hạn: 1.124.794.521 đồng); Hợp đồng cho vay số LN2204255655136 ngày 27/5/2022 là 8.176.919.870 đồng (trong đó: nợ gốc là: 7.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.125.349 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.124.794.521 đồng),và tiền nợ tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử là 67.004.567 đồng (Trong đó: nợ gốc: 44.129.167 đồng; nợ lãi trong hạn: 2.375.400 đồng; nợ lãi quá hạn: 20.500.000 đồng). Tổng số nợ của các hợp đồng là 24.981.145.569 đồng, trong đó, nợ gốc: 21.254.606.559 đồng; nợ lãi trong hạn: 251.769.114 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.474.769.896 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 19/6/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng V1 và bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T

Trường hợp bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng số tiền trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 51, tờ bản đồ số 46, diện tích sử dụng riêng: 418m², diện tích xây dựng: 347,6m² diện tích sàn: 1738m² địa chỉ: KP B, phường T, TP S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 111595, Số vào sổ cấp GCN:CH02620 QĐ: 694/QĐ-UBND do UBND Thành phố S cấp ngày 09/3/2018 mang tên bà Lê Thị L. Ngày 27/5/2022 bà Lê Thị L đã thế chấp cho ông T, ba B1 vay vốn của Ngân hàng V2 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số LN2205055703530 ngày 27/5/2022 tại Văn phòng C1, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

Trường hợp sau khi đã thực hiện việc kê biên, phát mại tài tài sản bảo đảm mà số tiền thu được không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền thực hiện xác minh, kê biên phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của ông T, bà B1 để xử lý thu hồi nợ.

*Ý kiến trình bày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C:

Ngày 25/11/2024, ông Lê Văn C đã có yêu cầu độc lập và Tòa án đã thụ lý yêu cầu độc lập của ông Lê Văn C. Theo đơn yêu cầu ông Lê Văn C trình bày như sau:

Năm 2018 ông và bà Cao Thị T1 có làm thủ tục tặng cho con gái của ông bà là chị Lê Thị L - SN 1986;Trú tại phường T, TP ., tỉnh Thanh Hóa tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa số 111a, tờ bản đồ số 12 thuộc khu phố B, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa (nay là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 46), diện tích đất 418m² (là công trình khách sạn H1). Việc tặng cho được lập hợp đồng tại Văn phòng C2, Thanh Hóa ngày 26/02/2018. Ngoài ra ông và chị L có lập văn bản thỏa thuận ngày 30/7/2018 tại Văn phòng C3 là phụ lục hợp đồng không thể tách rời của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 26/02/2018 với thỏa thuận chi tiết được ghi trong văn bản thỏa thuận mà các bên ký kết. Trong đó có nội dung thỏa thuận "Nếu chị Lê Thị L chuyển nhượng tài sản trên (Khách sạn gắn liền với đất) phải hỏi ý kiến của tôi và tôi được hưởng 20% tổng số tiền chuyển nhượng tài sản trên". Hiện nay tài sản mà ông tặng cho đã được chị Lê Thị L thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay của anh Trần Tuấn T và chị Nguyễn Thị B1 tại ngân hàng TMCP V (V1), việc thế chấp tài sản trên chị L không hề hỏi ý kiến của ông và được sự cho phép của ông, vì theo văn bản thỏa thuận tôi có 20% tài sản trên nếu khi nào chị L chuyển nhượng tài sản cho người khác. Do đó ông làm đơn này đề nghị Tòa xem xét cho ông được hưởng 20% giá trị tài sản khi chuyển nhượng tài sản của chị Lê Thị L tại thửa đất trên theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho cho các đương sự để các đương sự tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông T, bà B1, bà L không đến Tòa án để tự khai và tham gia các phiên họp hòa giải cũng như phiên tòa.

Tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP V vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ông Lê Văn C bổ sung: Ông đề nghị: Nếu trường hợp Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản mà chị L đã thế chấp tại Ngân hàng hoặc nếu chị L chuyển nhượng tài sản là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 51, tờ bản đồ số 46, địa chỉ: KP B, phường T, TP S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 111595 do UBND Thành phố S cấp ngày 09/3/2018 cho bà Lê Thị L, thì sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ mà chị Lê Thị L đã bảo đảm bằng Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như trên và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật thì phần giá trị chuyển nhượng còn lại ông sẽ được hưởng tương ứng với 20% giá trị chuyển nhượng (nếu còn) như đã thỏa thuận.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tống đạt hợp lệ nhưng đều vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 để xét xử vắng mặt bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ Điều 299; Điều 463; Điều 466; Điều 117, Điều 119 Bộ luật dân sự; Điều 91,95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, Khoản 2, 3 Điều 8 NQ 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C.

Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị đơn, chị Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Bị đơn cư trú tại thành phố S, do vậy khi phát sinh tranh chấp, Tòa án thành phố S thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng TMCP V với ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 có thỏa thuận ký các hợp đồng tín dụng với nhau. Ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 không thanh toán nợ đúng theo thỏa thuận của các hợp đồng nên Ngân hàng TMCP V đã khởi kiện ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 theo thỏa thuận trong hợp đồng. Vì vậy, quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 theo quy định của pháp luật để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt . Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS giải quyết vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.

[2] Về nội dung:

- Về yêu cầu trả nợ gốc và lãi của nguyên đơn đối với bị đơn:

Đối với các Hợp đồng cho vay số LN2205055703530, Hợp đồng cho vay số LN2205045690231,Hợp đồng cho vay số LN2204255655136 ngày 27/5/2022, Hợp đồng cho vay số 10084075 ngày 30/11/2023 và hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 27/5/2023 đã được các bên ký kết có nội dung, điều khoản thỏa thuận trong các hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi ký kết, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T. Việc giải ngân và nhận nợ được thể hiện trong các Khế ước nhận nợ vào ngày 27/5/2022, khế ước nhận nợ vào ngày 07/6/2022 và xác nhận nợ trong hợp đồng cho vay ngày 30/11/2023 với số tiền nhận nợ của các Hợp đồng cho vay trên là 21.270.000.000đồng và sao kê thẻ tín dụng của bà Nguyễn Thị B1 với số tiền nợ là 60.000.0000 đồng của hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng . Quá trình thực hiện hợp đồng ông T, bà B1 mới chỉ thanh toán được cho Ngân hàng số tiền là tổng số tiền của các khoản vay trên là 3.437.669.938 đồng, trong đó tiền gốc là 75.393.441 đồng và 3.362.276.497 đồng tiền lãi; sau đó kể từ ngày 15/4/2024 đến nay thì bà B1, ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu bà B1, ông T phải chịu mức lãi suất quá hạn và lãi chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký giữa hai bên.

Hội đồng xét xử nhận thấy tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hợp đồng và các thủ tục vay vốn tại Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, nội dung, điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, khoản 2,3 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền đã vay theo các Hợp đồng đã ký, Bà B1 và ông T đã nhận đủ số tiền vay. Như vậy, nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, việc Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng.

Do đó, Ngân hàng V1 yêu cầu Bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 18/6/2025: Hợp đồng cho vay số LN2205055703530 ngày 27/5/2022 là 7.101.141.613 đồng (trong đó: nợ gốc là 6.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 107.738.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 993.402.740 đồng ), Hợp đồng cho vay số 10084075 ngày 30/11/2023 là 1.459.159.649 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.210.477.392 đồng, nợ lãi trong hạn: 37.404.143 đồng, nợ lãi quá hạn: 211.278.114 đồng); Hợp đồng cho vay số LN2205045690231 ngày 27/5/2022 là 8.176.919.870 đồng (trong đó: nợ gốc là: 7.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 52.125.349 đồng, tiền lãi quá hạn: 1.124.794.521 đồng); Hợp đồng cho vay số LN2204255655136 ngày 27/5/2022 là 8.176.919.870 đồng (trong đó: nợ gốc là: 7.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.125.349 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.124.794.521 đồng),và tiền nợ tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử là 67.004.567 đồng (Trong đó: nợ gốc: 44.129.167 đồng; nợ lãi trong hạn: 2.375.400 đồng; nợ lãi quá hạn: 20.500.000 đồng) Tổng số nợ của các hợp đồng là 24.981.145.569 đồng, trong đó, nợ gốc: 21.254.606.559 đồng; nợ lãi trong hạn: 251.769.114 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.474.769.896 đồng và tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 19/6/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng đã ký là có cơ sở để chấp nhận.

- Về yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, mại tài sản thế chấp nếu bị đơn không trả được nợ, hoặc trả không đầy đủ khoản nợ như đã thỏa thuận tại các Hợp đồng đã ký giữa nguyên đơn và bị đơn:

Để bảo đảm cho khoản vay tại các Hợp đồng cho vay của bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T tại Ngân hàng V1, Ngày 27/5/2022 Bà Lê Thị L và Ngân hàng TMCP V đã ký Hợp đồng thế chấp số LN2205055703530. Theo đó bà L đã thế chấp toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 51, tờ bản đồ số 46, diện tích sử dụng riêng: 418m², diện tích xây dựng: 347,6m² diện tích sàn: 1738m² địa chỉ: KP B, phường T, TP S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 111595, Số vào sổ cấp GCN:CH02620 QĐ: 694/QĐ-UBND do UBND Thành phố S cấp ngày 09/3/2018 mang tên bà Lê Thị L để bào đảm cho các khoản vay của ông T, bà B1 tại Ngân hàng V1 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Hợp đồng thế chấp trên đã được ký kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện. Tại thời điểm thực hiện giao kết hợp đồng các bên đều có năng lực hành vi dân sự, hợp đồng có công chứng chứng thực và làm thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng thế chấp này có giá trị pháp lý. Vì vậy, Yêu cầu của Ngân hàng: Trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ, hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng, thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp, được chấp nhận.

- Về yêu cầu xác minh, kê biên, phát mại khác của bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Tuấn T:

Tại điểm Điều 3 của các Hợp đồng cho vay được ký kết giữa hai bên đã ghi rõ hai bên phải chấp nhận và tuân thủ các điều khoản tại Điều kiện giao dịch chung khi vay vốn tại VPBak. Tại khoản 4 Điều 7 các Điều kiện giao dịch chung đã quy định “Trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả nghĩa vụ trả nợ trước hạn), ngoài việc chuyển quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn, V1 được quyền áp dụng các biện pháp để thu hồi nợ không giới hạn”. Do Hợp đồng cho vay trên là có giá trị pháp lý nên yêu cầu của Ngân hàng: Trường hợp sau khi đã thực hiện việc kê biên, phát mại hết các tài tài sản bảo đảm mà số tiền thu được không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông T, bà B1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên phát mại các tài sản khác của Ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 là có cơ sở để chấp nhận.

- Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nếu trường hợp Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản mà chị L đã thế chấp tại Ngân hàng hoặc nếu chị L chuyển nhượng tài sản ông đã tặng cho bà Lê Thị L, thì sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ mà chị Lê Thị L đã bảo đảm bằng Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như trên và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật thì phần giá trị chuyển nhượng còn lại ông sẽ được hưởng tương ứng với 20% giá trị chuyển nhượng (nếu còn) như đã thỏa thuận.

Xét văn bản thỏa thuận ngày 20/7/2018 giữa ông Lê Văn C và chị Lê Thị L. Việc ký kết văn bản thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, các bên đều có đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung, điều khoản thỏa thuận và hình thức của việc thỏa thuận của hai bên bằng văn bản thỏa thuận là phù hợp với quy định tại các Điều 117,Điều 119, Điều 385, Điều 401 BLDS. Văn bản thỏa thuận giữa bà L và ông C đã được công chứng tại Văn phòng C3. Do đó nội dung thỏa thuận tại Văn bản Thỏa thuận ngày 20/7/2018 giữa bà Lê Thị L và ông Lê Văn C là có giá trị pháp lý. Trong văn bản hai bên đã thỏa thuận: Nếu chị Lê Thị L chuyển nhượng tài sản là thửa đất và tài sản trên đất thì phải hỏi ý kiến ông C và ông C được hưởng 20% tổng số tiền chuyển nhượng tài sản. Thỏa thuận này giữa hai bên không hạn chế việc chị L thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm tại các Ngân hàng để vay vốn nên việc chị L thực hiện việc thế chấp tài sản đã ký văn bản thỏa thuận với ông C để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ông T, bà B1 tại Ngân hàng V1 là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên do Văn bản thỏa thuận của ông C và bà L có giá trị pháp lý nên yêu cầu của ông C là nếu trường hợp Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản hoặc bà L chuyển nhượng tài sản ông đã tặng cho, thì sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ mà bà Lê Thị L đã bảo đảm bằng Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như trên và các nghĩa vụ đối với nhà nước theo quy định của pháp luật thì phần giá trị chuyển nhượng còn lại ông sẽ được hưởng tương ứng với 20% giá trị chuyển nhượng (nếu còn) như đã thỏa thuận trong văn bản thỏa thuận các bên đã ký kết là có căn cứ để chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và do yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C được chấp nhận, nên người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của ông Lê Văn C là bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; khoản 2, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Ngân hàng không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 BLTTDS. Điều 299; Điều 463; Điều 466, Điều 117, Điều 119 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, Khoản 2, khoản 3 Điều 8 NQ 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

Buộc ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ tính đến ngày 18/6/2025 là 24.981.145.569 đồng (hai tư tỷ chín trăm tám mốt triệu một trăm bốn lăm nghìn năm trăm sáu chín đồng), trong đó, nợ gốc: 21.254.606.559 đồng; nợ lãi trong hạn: 251.769.114 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.474.769.896 đồng, cụ thể số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số LN2205055703530 ngày 27/5/2022 là 7.101.141.613 đồng (trong đó: nợ gốc là 6.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 107.738.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 993.402.740 đồng ), Hợp đồng cho vay số 10084075 ngày 30/11/2023 là 1.459.159.649 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.210.477.392 đồng, nợ lãi trong hạn: 37.404.143 đồng, nợ lãi quá hạn: 211.278.114 đồng); Hợp đồng cho vay số LN2205045690231 ngày 27/5/2022 là 8.176.919.870 đồng (trong đó: nợ gốc là: 7.000.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 52.125.349 đồng, tiền lãi quá hạn: 1.124.794.521 đồng); Hợp đồng cho vay số LN2204255655136 ngày 27/5/2022 là 8.176.919.870 đồng (trong đó: nợ gốc là: 7.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 52.125.349 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.124.794.521 đồng) và Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 27/5/2022 là 67.004.567 đồng (Trong đó: nợ gốc: 44.129.167 đồng; nợ lãi trong hạn: 2.375.400 đồng; nợ lãi quá hạn: 20.500.000 đồng).

Bị đơn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 19/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng V1 và ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị Bích .

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ trên cho Ngân hàng V1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 51, tờ bản đồ số 46, diện tích sử dụng riêng: 418m², diện tích xây dựng: 347,6m² diện tích sàn: 1738m², địa chỉ: KP B, phường T, TP S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 111595, Số vào sổ cấp GCN:CH02620 QĐ: 694/QĐ-UBND do UBND Thành phố S cấp ngày 09/3/2018 mang tên bà Lê Thị L theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số LN2205055703530 ngày 27/5/2023 tại Văn phòng C1, TP T, tỉnh Thanh Hóa và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định để đảm bảo cho việc trả nợ và thi hành án đối với khoản nợ tại các Hợp đồng đã ký giữa hai bên.

Trường hợp sau khi đã thực hiện việc kê biên, phát mại hết các tài tài sản bảo đảm mà số tiền thu được không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên phát mại các tài sản khác của ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị Bích .

Trong trường hợp Ngân hàng V1 yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản để thu hồi nợ hoặc bà Lê Thị L chuyển nhượng tài sản là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 51, tờ bản đồ số 46, địa chỉ: KP B, phường T, TP S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 111595 do UBND Thành phố S cấp ngày 09/3/2018 mang tên bà Lê Thị L. Thì số tiền chuyển nhượng sau khi thanh toán hết các nghĩa vụ trả nợ mà bà Lê Thị L đã bảo đảm bằng Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như trên và các nghĩa vụ đối với nhà nước theo quy định của pháp luật thì phần giá trị chuyển nhượng còn lại ông C sẽ được ưu tiên thanh toán để hưởng tương ứng với 20% giá trị chuyển nhượng (nếu còn) như đã thỏa thuận trong văn bản thỏa thuận đã ký kết giữa các bên.

Về án phí: Ông Trần Tuấn T, bà Nguyễn Thị B1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền được làm tròn số là: 132.981.000đ (một trăm ba mươi hai triệu chín trăm tám mốt nghìn đồng).

Bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 65.000.000₫ (sáu mươi lăm triệu đồng) theo biên lai thu số 0004947 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngân hàng TMCP V, ông Lê Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T, bà B1, bà L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPSS;
  • - THA- TPSS;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Long

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Chu Ngọc Trọng Hà Thị Long
Nguyễn Viết Mai
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger