Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày 16/4/2025

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đông Hà
  2. Bà Nguyễn Thị Tua

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thuỷ tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên

Ngày 16/4/2025, tại trụ sở TAND huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2024/TLST-DS, ngày 07 tháng 11 năm 2024 về trông chấp hợp đồng đặt cọc, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-DS, ngày 28/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mộng T, sinh năm 1977.
  2. Địa chỉ: ấp P, huyện P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970.
  4. Địa chỉ: ấp I, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

  5. Người làm chứng: Ông Huỳnh Thanh N, sinh năm 1981.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Võ Thị Mộng T trình bày:

Vào ngày 10/7/2024, bà và ông Nguyễn Văn H có hợp đồng về việc mua bán lúa khô, hai bên có làm hợp đồng, thỏa thuận bên bán bao ẩm mốc (tính tại thời điểm giao nhận lúa), nếu lúa bị ẩm mốc, bị vàng thì bên mua có quyền từ chối mua lúa. Số lượng lúa theo hợp đồng là 320 tấn, giá mua là 9.850 đ/kg, loại lúa OM18 khô. Bà có giao cho ông H 100.000.000 đồng tiền cọc. Theo hợp đồng có ghi là ngày cân dứt điểm là ngày 20/7/2024 âl, nhưng thực tế bà nói ngày 20 bà cân không kịp, ông H có nói trên hợp đồng ghi như vậy nhưng ông cho chậm thêm 1, 2 ngày được.

Sau khi hợp đồng bà có cân lúa được 02 đợt, đợt đầu thì chất lượng đảm bảo nhưng đợt sau thì lúa bị vàng nên bà kêu ông N hẹn ngày 19/7 xuống thương lượng thì ông H nói bận công việc. Sau đó bà bận nên ngày 21/7 bà có thỏa thuận với ông H vì không biết lúa bị vàng khúc nào nên ông H nói bán đi rồi lỗ chia 2 bà cũng thống nhất. Khi bà vừa về đến nhà thì ông H gọi nói bán lúa nói giá bán 9.400 đồng/kg thì bà không đồng ý nói bán bị lỗ và kêu đợi sáng hôm sau bà xuống xay xát xem sao rồi tính. Nhưng khi bà xuống thì ông H đang cân lúa cho người khác. Bà có lấy 01 bao đi xay xát ở gần nhà máy gần đó (bà không biết tên và cũng không biết ai trực tiếp xay xát và hứng gạo), khi xay xát xong thì ra ngoài xem thì gạo bị vàng do lúa vàng, lúc này có mặt bà, ông H, ông N và chồng bà, nhà máy chỉ là người xay xát nên chủ nhà máy cũng không biết việc lúa, gạo vàng hay không, chủ nhà máy chỉ xay ra rồi đưa gạo cho bà nên bà không yêu cầu triệu tập chủ nhà máy để làm chứng, ông H có kêu bà bớt 10.000.000 đồng nhưng bà không đồng ý và yêu cầu trả lại tiền cọc. Ông H đã trả bà 70.000.000 đồng, nay bà yêu cầu trả thêm 30.000.000 đồng còn lại.

Tại biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Ông thừa nhận có hợp đồng mua bán lúa như bà T trình bày. Bà T có cân được 02 đợt lúa và đã trả tiền xong không tranh chấp. Sau đó bà T có gọi điện nói lúa bị vàng, bà T có xuống gặp ông nói là lúa bị vàng nên bà T không nhận lúa nữa nhưng bà T không coi phần lúa còn lại. Khi bà T về đã qua ngày cân lúa dứt điểm theo hợp đồng, ông mới gọi điện thông báo cho bà T là bà T không mua lúa thì ông bán cho người khác, bán cho người khác giá lúa bị giảm 400 đồng/kg ông nói bà T bù phần này và ông sẽ bù tiếp bà T thì bà T đồng ý cho ông bán lúa và bù tiền bán bị lỗ. Ông chỉ nói bù tiếp bà T chứ không nói ông sẽ bù tiếp bao nhiêu. Khoảng ngày 23/7 đến 24/7/2024 khi ông đang bán lúa thì bà T có xuống và nói với ông lúa bị vàng nên ông phải trả lại tiền cọc. Lúc đó bà T vẫn thấy ông bán lúa nhưng bà T không ngăn cản mà chỉ đòi lại tiền cọc. Ông bán phần lúa còn lại cho người khác xong là ngày 27/7/2024. Việc bà T nói lúa bị vàng cũng không được sự xác nhận của hai bên và cũng không nhờ chính quyền hay ai đứng ra chứng kiến.

Sau khi bán số lúa còn lại là 110 tấn thì ông bị lỗ số tiền 44.000.000 đồng, ông tự nguyện bù tiền bán bị lỗ tiếp bà T 14.000.000 đồng, bà T phải bù 30.000.000 đồng. Do đó, ông chỉ trả cho bà T 70.000.000 đồng tiền cọc và ông đã trả xong. Còn lại 30.000.000 đồng là do bà T không mua lúa theo thỏa thuận nên ông bị lỗ thì bà T phải bù cho ông, ông không đồng ý trả lại 30.000.000 đồng theo yêu cầu của bà T.

Người làm chứng ông Huỳnh Thanh N trình bày: Ông là cò lúa, ông hợp đồng với bà T là ông giới thiệu ông H bán lúa cho bà T. Nếu ông H và bà T thỏa thuận mua bán với nhau xong thì bà T sẽ trả hoa hồng cho ông trên số lúa mua được của ông H, 25.000 đồng/tấn. Còn việc mua bán giao nhận tiền cọc, tiền lúa thì ông H và bà T tự thỏa thuận với nhau, ông chỉ là người chứng kiến việc giao tiền. Không có liên quan gì đến việc mua bán giữa ông H và bà T.

Ông được biết bà T và ông H có ký hợp đồng mua bán lúa với nhau, vì thời gian lâu ông không nhớ rõ thời gian. Bà T đã nhận lúa của ông H tổng cộng 02 đợt, đợt đầu nhận 02 ghe chất lượng lúa tốt, đợt thứ hai bà T nhận 02 ghe khi về xay xát thì bà T gọi điện nói với ông lúa của ông H bị vàng.

Ông mới gọi cho ông H ngày 19/7 sẽ xuống thương lượng ông H nói ngày 19/7 bận nên vài ngày sau ông với bà T xuống. Hai bên thương lượng bớt giá nhưng hai bên không thống nhất được, hẹn lại ngày hôm sau xuống xay xát xong tính tiếp. Bà T cũng chưa nói là nhận lúa hay không, cũng chưa nói là có cho ông H bán lúa hay không. Khi bà T về thì ông H điện kêu tính toán cho dứt khoát để ông H tính về số lúa còn lại, lúc này bà T có điện cho ông nói ông H hối thúc quá nên đợi sáng xuống rồi tính. Sáng hôm sau xuống thì thấy ông H đang cân lúa cho người khác. Bà T có lấy 01 bao lúa đi xay xát để làm chứng thì khi xay ra gạo bị vàng. Ông H thừa nhận lúa bị vàng và kêu ông đợi ở quán đi để cho ông H lại rồi tính. Theo ông là lúa của ông H bị vàng nên ông H phải trả thêm 30.000.000 đồng cho bà T.

Tại phiên tòa nguyên đơn xác định số tiền cọc bị đơn còn nợ là 30.000.000 đồng, tuy nhiên nguyên đơn tự nguyện bớt số tiền 15.000.000 đồng, thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền cọc 15.000.000 đồng. Bị đơn không thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn, do nguyên đơn không nhận lúa đúng theo hợp đồng và đồng ý cho bị đơn bán cho người khác và thoả thuận sẽ bù lỗ cho bị đơn so với giá thoả thuận ban đầu nên bị đơn không đồng ý trả số tiền 15.000.000 đồng. Tổng số tiền bị đơn bị lỗ là 44.000.000 đồng, bị đơn tự nguyện chịu 50% là 22.000.000 đồng, bị đơn chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn thêm 8.000.000 đồng.

Kiểm sát viên phát biểu về việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các bên đương sự là đúng pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về án phí các đương sự phải chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về xác định quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền đặt cọc đã giao cho bị đơn để đảm bảo thực hiện hợp đồng mua lúa theo thỏa thuận. Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy thụ lý quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” là đúng theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về xác định thẩm quyền: Ông Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại ấp I, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang nên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung khởi kiện:

[3.1]. Nguyên đơn bà Võ Thị Mộng T yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả số tiền cọc mua lúa theo hợp đồng mua bán lúa ngày 10/7/2024. Bà T và ông H thống nhất số tiền cọc bà T đã giao cho ông H là 100.000.000 đồng, nội dung thoả thuận hai bên đã ký kết theo tờ hợp đồng do bà T cung cấp là đúng. Ông H cũng nộp cho Toà án bản phô tô hợp đồng có nội dung giống với bản phô tô bà T cung cấp. Tại phiên tòa bà T và ông H đều thống nhất sau khi trừ xong số tiền cọc 70.000.000 đồng bà T đã giao lại bản gốc hợp đồng cho ông H và ông H đã hủy bỏ, bản phô tô đã nộp là được sao chụp từ bản gốc. Do đó, nội dung thoả thuận trong bản phô tô hợp đồng mua bán lúa đã được hai bên thừa nhận được xem là căn cứ để giải quyết vụ án. Trong quá trình mua bán hai bên đã thoả thuận trừ số tiền cọc là 70.000.000 đồng vào tiền mua bán lúa, còn lại 30.000.000 đồng ông H chưa trả lại cho bà T. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đối với số tiền cọc còn lại là 30.000.000 đồng các bên có tranh chấp.

[3.2]. Bà T cho rằng lúa bị vàng ông H cho rằng bà T thống nhất cho ông bán lúa cho người khác và bà sẽ chịu bù phần chênh lệch do bán bị lỗ với giá thỏa thuận ban đầu). Lời trình bày của bà T và ông H đều không được bên còn lại thừa nhận và cũng không có chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên, theo lời trình bày của người làm chứng là ông Huỳnh Thanh N thì lúa bị vàng và hai bên trong quá trình thương lượng bà T chưa thống nhất cho ông H bán lúa cho người khác. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H thừa nhận có việc bà T cho rằng lúa bị vàng nhưng ông không đồng ý nên hai bên có cùng nhau thỏa thuận việc giải quyết. Như vậy ông H đã biết việc hai bên đang có tranh chấp và chưa đi đến sự thống nhất về cách giải quyết mà ông đã bán toàn bộ số lúa còn lại. Việc ông bán lúa cho người khác cũng xem như đã chấm dứt hợp đồng mua bán với bà T vì vậy số tiền cọc còn lại theo hợp đồng ông phải có nghĩa vụ trả lại cho bà T.

[3.3]. Xét về nội dung thoả thuận trong hợp đồng mua bán lúa, hai bên chỉ thoả thuận về chất lượng lúa và nghĩa vụ thanh toán, ngoài ra không thoả thuận về trách nhiệm bồi thường khi vi phạm thoả thuận trong hợp đồng. Hợp đồng có thể hiện nội dung về trách nhiệm của hai bên khi vi phạm theo trong hợp đồng nhưng trong hợp đồng không thể hiện trách nhiệm bồi thường như thế nào. Do đó, căn cứ vào Điều 328 Bộ luật dân sự và như đã nhận định ở trên ông H tự ý bán lúa cho người khác khi chưa xác định được bà T có tiếp tục mua lúa hay không mà ông lại yêu cầu bà T chịu lỗ là không phù hợp. Phần còn lại của hợp đồng do hai bên không tiếp tục thực hiện được thì ông H phải có nghĩa vụ trả lại tiền cọc cho bà T. Ông H không có cơ sở để yêu cầu bà T bồi thường, bù lỗ phần ông H bán lúa bị lỗ. Tuy nhiên, tại phiên toà bà T cho rằng khi xảy ra tranh chấp bà đã không trình báo với chính quyền địa phương và cơ quan có thẩm quyền để chứng kiến và giải quyết là thiếu sót của bà tự nguyện chịu tiếp ông H số tiền 15.000.000 đ và yêu cầu ông H trả lại cho bà 15.000.000 đ, sự tự nguyện của bà là phù hợp thể hiện thiện chí thỏa thuận giải quyết tranh chấp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.4]. Đối với việc ông H nộp các giấy tờ mua bán lúa với người mua lúa số lúa còn lại, người bốc vác và cò bán số lúa này do nhận thấy không liên quan đến việc giải quyết số tiền cọc nên Hội đồng xét xử không triệu tập người làm chứng.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí tương ứng với số tiền mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn. Nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí do yêu cầu hởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Các đương sự còn được kháng cáo theo luật định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 5, 6, 26, 35, 39, 91, 147, khoản 3 Điều 200, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 274, 275, 292, 328 Bộ luật dân sự 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mộng T. Buộc ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Mộng T số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  2. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất do chậm trả đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải nộp số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm chục ngàn đồng). Bà Võ Thị Mộng T được nhận tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008939, ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện vị T1. Nhận tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Vị Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Vị Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng TTĐT Tòa án;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Quách Thị Mỹ Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 16/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger