Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày: 10/3/2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Trung

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đào Đức Phú

Ông Nguyễn Như Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên

toà: Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14, 18 tháng 02 và 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: /2024/TLST-DSST ngày 05 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07 ngày 23/12/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1949; HKTT: Đường T, khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn Í, sinh năm 1977; HKTT: Đường T, khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt T – Luật sư thuộc Công ty L và cộng sự - Đoàn luật sư thành phố H. có mặt

Bị đơn: Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1963; bà Phương Thị H, sinh năm 1964; Cùng HKTT: Đường T, khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. vắng mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Bùi Văn C, sinh năm 1966; HKTT: Khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt
  • - Bà Bùi Thị C1, sinh năm 1971; HKTT: Khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt
  • - Bà Bùi Thị C2, sinh năm 1976; HKTT: Khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt
  • - Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1983; HKTT: Khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt
  • - Anh Hoàng Đình T2, sinh năm 1968; HKTT: khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt
  • - Chị Lưu Thị T3, sinh năm 1984; HKTT: phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt – có đơn xin vắng mặt
  • - Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1948; ông Nguyễn Văn Í, bà Trần Thị P, sinh năm 1980; anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1999; anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2004; cùng HKTT: khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo ủy quyền của bà V, bà P, anh S, anh D: ông Nguyễn Văn Í. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 10/01/1999, ông Bùi Minh T4 (bố đẻ của ông Bùi Văn T1) có chuyển nhượng thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 có diện tích 185m² tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho ông Lưu Văn T5 và bà Nguyễn Thị B. Thửa đất trên được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ ông Bùi Minh T4 theo Quyết định số 00356/QSDĐ/805/QĐ-UB ngày 14/9/1998. Việc chuyển nhượng giữa ông Bùi Minh T4 và ông Lưu Văn T5 được lập thành hợp đồng có chữ ký của ông T4, ông T5 và được UBND xã Đ (nay là phường Đ) xác nhận. UBND xã Đ cũng đã cắm mốc cấp trích lục về việc chuyển nhượng.

Do không có nhu cầu sử dụng, cùng trong năm 1999, ông Lưu Văn T5 đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất trên cho ông Nguyễn Văn M. Việc chuyển nhượng giữa ông Lưu Văn T5 và ông Nguyễn Văn M cũng được lập thành hợp đồng có chữ ký của ông T5, ông M và được UBND xã Đ (nay là phường Đ) xác nhận. UBND xã Đ cũng đã cắm mốc cấp trích lục về việc chuyển nhượng.

Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Nguyễn Văn M đã cho gia đình con trai là ông Nguyễn Văn Í sinh sống trên thửa đất. Trong thời gian sống trên thửa đất, ông M, ông Í và gia đình có xây dựng căn nhà 3 tàng kiên cố từ năm 2002 và tường rào bao quanh toàn bộ thửa đất. Quá trình gia đình ông M, ông Í sinh sống trên đất gia đình ông Bùi Minh T4, ông Bùi Văn T1 không có ý kiến tranh chấp.

Năm 2003, ông Bùi Minh T4 chết, gia đình ông T4 đã chuyển toàn bộ quyền sử dụng đất của thửa đất cho vợ chồng anh Bùi Văn T1, bà Phương Thị H. Gia đình ông Nguyễn Văn M có nhiều lần liên hệ với anh Bùi Văn T1 để làm thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông Bùi Văn T1 không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông M.

Với nội dung trên, ông Nguyễn Văn M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giải quyết các nội dung sau:

Đề nghị Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Bùi Văn T6 và ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B với ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị V.

Đề nghị Công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 có diện tích 185m² tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị V

Yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC704980; số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00496 ngày 31/12/2010 do UBND thành phố B cấp cho ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H đối với thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 có diện tích 185m² tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Đến ngày 13/5/2024, ông M có thay đổi nội dung yêu cầu, rút lại yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tuyên vô hiệu (hoặc hủy bỏ) “Biên bản họp gia đình về việc phân chia quyền sử dụng đất” ngày 01/12/2010 của gia đình ông Bùi Văn T1 và yêu cầu UBND thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 704980, số vào sổ cấp GCN: CH00496 cấp ngày 31/12/2010 đã chấp cho ông Bùi Văn T1 và bà Phương Thị H.

Ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị V có quyền liên hệ với UBND thành phố B hoặc cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã nhiều lần triệu tập, liên hệ làm việc nhưng bị đơn là ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H không làm việc, không chấp hành giấy triệu tập của tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã nhiều lần triệu tập, liên hệ làm việc nhưng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị C1, bà Bùi Thị C2, bà Bùi Thị H1 không làm việc, không chấp hành giấy triệu tập của tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai anh Hoàng Đình T2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Anh Hoàng Đình T2 là con trai của ông Lưu Văn T5. Ông T5 là bố dượng của anh T2. Ông Lưu Văn T5 sinh năm 1939, mất năm 2018 có vợ là bà Nguyễn Thị B, mất năm 2020; con là chị Lưu Thị T3 sinh năm 1984. Vào khoảng năm 1998, 1999 ông Lưu Văn T5 có mua của ông Bùi Minh T4 01 thửa đất. Về việc ông T5 mua của ông T4 hết bao nhiêu tiền thì anh T2 không nhớ. Khi đó cả gia đình ông T4 đều biết việc mua bán trên. Ông T5 cũng đã trả đủ tiền cho gia đình ông T4 và được bàn giao đất. Sau khi mua đất, ông Lưu Văn T5 có bán lại thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn M. Ông M đã trả đủ tiền, gia đình ông T5 cũng đã bàn giao thửa đất cho gia đình ông M. Gia đình ông M cũng sinh sống, xây dựng tại thửa đất trên từ năm 1999 cho đến nay. Về việc tranh chấp, anh T2 đề nghị giải quyết theo quy định. Anh T2 cũng đề nghị xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng.

Tại biên bản lấy lời khai chị Lưu Thị T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông Lưu Văn T5 và bà Nguyễn Thị B có 01 người con là chị T3. Liên quan việc mua bán đất giữa ông T5 cùng nhà ông T4 cùng ông M do thời điểm đó chị T3 ở xa nhà nên không biết nội dung. Về việc tranh chấp chị T3 đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật và đề nghị xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng.

Tại biên bản làm việc ngày 03/8/2023, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đã cung cấp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh. Theo các tài liệu thể hiện: Thửa đất số 207 tờ bản đồ số 03 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Bùi Minh T4 vào ngày 14/9/1998. Sau khi ông Bùi Minh T4 chết, gia đình ông Bùi Minh T4 có biên bản họp gia đình ngày 01/12/2010 thống nhất cho ông Bùi Văn T1 được quyền sử dụng đất thửa đất số 207, 209 tờ bản đồ số 03 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Cùng ngày, ông Bùi Văn T1 có đơn đề nghị đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gửi UBND thành phố B đề nghị cấp giấy chứng nhận cho ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H. Căn cứ các tài liệu trên, UBND thành phố B đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 207 tờ bản đồ số 03 cho ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H ngày 31/12/2010.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/12/2023 xác định: Thửa đất số 207, tờ bản đồ số 03 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Băc Ninh (nay là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh) có tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp phố Trần Xuân S1; phía đông giáp nhà bà Nguyễn Thị T7 và một phần nghĩa địa; phía nam giáp nhà ông Bùi Văn T1; phía tây giáp nhà ông Nguyễn Ngọc Đ và một phần miếu.

Tài sản trên đất gồm có: 01 nhà 02 tầng bên trên có tum nhỏ lợp proximang xây dựng năm 2003 do ông Nguyễn Văn Í xây dựng; 01 nhà cấp 4 01 tầng lợp proximang do ông Nguyễn Văn Í xây dựng năm 2003 hiện đang làm nhà trọ; diện tích còn lại là sân lát gạch bổ, phía trên sân lợp tôn vì kèo sắt; trên đất có tường bao, hoa sắt; 01 cổng sắt 02 cánh và 01 cổng sắt kéo.

Tại biên bản định giá tài sản xác định:

Đất ở vị trí A đường T; giá nhà nước: 2.654.437.500 đồng; giá thị trường: 5.445.000.000 đồng.

Tài sản trên đất:

01 nhà cấp III loại 10 giá trị 141.843.392 đồng; 01 nhà cấp IV xây dựng năm 2003 đã hết khấu hao; 01 sân lát gạch bổ lợp tôn vì kèo sắt và đoạn tường bao, hoa sắt, 01 cổng sắt 02 cánh, 01 cổng sắt kéo không định giá.

Tại biên bản lấy lời khai, người làm chứng là ông Nguyễn Văn T8 trình bày: Ông T8 là hàng xóm sinh sống ở thửa số 39 tờ bản đồ số 33 cạnh thửa đất số 59 tờ bản đồ số 33 tại phường Đ, thành phố B. Nguồn gốc thửa đất số 59 tờ bản đồ số 33 phường Đ là của ông Bùi Văn T6. Ông T6 bán cho ông Lưu Văn T5 năm 1999. Sau khi mua đất của ông T6, ông T5 bán cho ông Nguyễn Văn M cùng năm đó. Gia đình ông M đã chuyển đến sinh sống tại thửa đất từ năm 1999 đến nay. Khi đó gia đình ông T6 chuyển đến sống tại phần đất bên cạnh (tại thửa 219 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ) cho đến nay. Quá trình sử dụng, gia đình ông M có xây dựng lại các công trình trên thửa đất trên. Khi đó hàng xóm láng giềng đều biết và không có tranh chấp gì. Đến nay tôi mới biết có thông tin nhà ông M có tranh chấp với nhà ông T5 là con trai ông T6.

Tại biên bản lấy lời khai, người làm chứng là bà Nguyễn Thị P1 trình bày: bà P1 sống tại đường T, khu C, phường Đ từ bé cho đến nay. Về thửa đất số 204 tờ bản đồ số 03 (nay là thửa 59 tờ bản đồ 33) phường Đ bà P1 trình bày: Bà P1 là hàng xóm, sinh sống cạnh thửa đất trên (sống tại thửa 161 tờ bản đồ 03). Nguồn gốc thửa đất là của ông Bùi Văn T6. Ông T6 bán cho ông Lưu Văn T5 thời điểm năm 1999. Sau khi mua đất của ông T6, ông T5 bán cho ông Nguyễn Văn M vào cùng năm. Gia đình ông M đã chuyển đến sinh sống tại thửa đất từ năm 1999 đến nay. Khi đó gia đình ông T6 chuyển đến sống tại phần đất bên cạnh (tức thửa 219 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ) cho đến nay. Quá trình sử dụng, gia đình ông M có xây dựng lại các công trình trên thửa đất trên. Khi đó hàng xóm láng giềng đều biết và không có tranh chấp gì. Đến nay tôi mới biết có thông tin nhà ông M có tranh chấp với nhà ông T5 là con trai ông T6.

Tại biên bản lấy lời khai, ông Đỗ Văn Đ1 – nguyên cán bộ tài chính xã Đ trình bày: Ông Đ1 làm cán bộ tài chính xã Đ từ năm 1995 đến năm 2002 thì chuyển sang làm cán bộ quỹ tín dụng Đại Phúc. Ngày 10/01/1999, căn cứ Đơn xin chuyển nhượng Quyền sử dụng đất của ông Bùi Minh T4 cho ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B. Qua kiểm tra xác nhận của cán bộ chuyên môn và quy định thủ tục pháp lý thời điểm chuyển nhượng đất năm 1999, xét thấy đất chuyển nhượng trên thực tế của ông Bùi Minh T4 không có tranh chấp. Do vậy, khi tiến hành làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại UBND xã Đ thì tôi là thành phần bắt buộc theo quy định đã ký vào biên bản cắm mốc gồm có chữ ký của chủ chuyển nhượng đất, chủ được nhượng đất, hộ giáp ranh chứng kiến, cán bộ tài chính xã, cán bộ địa chính xã và đại diện UBND phường Đ. Tôi khẳng định chữ ký trong biên bản cắm mốc ngày 10/01/1999 là của otoi và biên bản cắm mốc được ký tại UBND xã Đ là đảm bảo đúng thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định thời điểm đó.

Tại biên bản lấy lời khai, ông Nguyễn T9 – Nguyên chủ tịch UBND xã Đ trình bày: Thời điểm ngày 10/01/1999, ông Bùi Minh T4 ở tại xóm C, xã Đ chuyển nhượng đất cho ông Lưu Văn T5. Hồ sơ chuyển nhượng ghi ngày tháng năm đầy đủ. UBND xã Đ căn cứ thực tế đất của bên bán và bên mua không có tranh chấp và bên bán có đất để chuyển nhượng cho bên mua là đúng sự thật thì UBND sẽ xác nhận theo quy định pháp luật vào hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng và tôi đã ký xác nhận của UBND phường Đ vào các biên bản chuyển nhượng nhưng dấu chức danh ghi Nguyễn Tâm . Còn các tài liệu chuyển nhượng và hiện trạng thửa đất mà ông Lưu Văn T5 chuyển nhượng cho ông M không ghi ngày tháng năm là do sơ xuất của văn phòng ủy ban. Còn chữ ký, con dấu tại các văn bản của UBND xã Đ và chữ ký của tôi là đúng sự thật.

Tại phiên tòa Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh

Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Bùi Văn T6 và ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B với ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị V.

Công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 có diện tích 185m² tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị V

Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tuyên vô hiệu (hoặc hủy bỏ) “Biên bản họp gia đình về việc phân chia quyền sử dụng đất” ngày 01/12/2010 của gia đình ông Bùi Văn T1 và yêu cầu UBND thành phố B, tỉnh Bắc Ninh điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 704980, số vào sổ cấp GCN: CH00496 cấp ngày 31/12/2010 đã chấp cho ông Bùi Văn T1 và bà Phương Thị H.

Ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị V có quyền liên hệ với UBND thành phố B hoặc cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Xác định trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt và gửi các văn bản tố tụng cũng như thời hạn giải quyết vụ án; tại phiên toà HĐXX đã đảm bảo đúng các nguyên tắc và thủ tục tố tụng tại phiên toà; nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Bị đơn, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông B1, bà V1 và bà N không chấp hành giấy triệu tập và các quyết định của tòa án.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 217, khoản 2 Điều 244, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 118, 119, 394, 395, 400, 404, 409, 411 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 221, 223 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 73 Luật đất đai năm 1995, Điều 98, điểm c khoản 2 Điều 99, 166, 167, 168, 169, 170 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; NQ 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M:
    • + Yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Bùi Văn T6 và ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B với ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị V là có hiệu lực pháp luật
    • + Xác nhận ông Nguyễn Văn M được quản lý, sử dụng thửa đất số 59 tờ bản đồ số 33 diện tích thực tế 181,5m2 có địa chỉ tại khu C, phường Đ, TP B.
    • + Đề nghị tuyên bố “Biên bản họp gia đình về việc phân chia quyền sử dụng đất” ngày 01/12/2010 của gia đình ông Bùi Văn T1 là vô hiệu
    • + Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
    • + Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông M về việc hủy giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông Bùi Văn T1 và Phương Thị H đối với thửa đất số 59 tờ bản đồ số 33 nêu trên.
    • + Về án phí và chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản: Các đương sự phải chịu án phí, chi phí đo đạc, thẩm định theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

Vụ án được xác định là vụ án dân sự về tranh chấp Quyền sử dụng đất. Tài sản tranh chấp là bất động sản nằm trên địa bàn phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị C1, bà Bùi Thị C2, bà Bùi Thị H1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Đình T2, chị Lưu Thị T3; UBND thành phố B; UBND phường Đ, thành phố B đã được triệu tập và có đề nghị xin vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trên.

[2] Về nội dung vụ án.

Về thửa đất số 207 tờ bản đồ số 03 tại Xóm C, xã Đ, thị xã B, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh). Thửa đất trên được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Bùi Minh T4, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đât số M436398 số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 00356/QSDĐ/805/QĐ-UB ngày 14/9/1998.

Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 10/01/1999 được ký kết giữa ông Bùi Minh T4 và ông Lưu Văn T5 thì thấy rằng. Chủ thể ký kết hợp đồng là chủ hộ là đại diện hộ gia đình. Thời điểm ký kết hợp đồng các bên có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng. Sau khi ký kết, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đã được UBND xã Đ (nay là phường Đ) xác nhận. Căn cứ hợp đồng trên và đề nghị của các bên mua bán, UBND xã Đ đã cử cán bộ tài chính, địa chính, đại diện UBND đến vị trí thửa đất chuyển nhượng để cắm mốc, liệt kê tài sản chuyển nhượng. Các hộ giáp ranh cũng đã ký chứng kiến. UBND xã Đ cũng đã cấp trích lục thửa đất số 207 bản đồ khu dân cư xóm 3 cho ông Lưu Văn T5 là bên nhận chuyển nhượng. Sau khi hoàn thành thủ tục, các bên đã thanh toán đầy đủ giá trị chuyển nhượng, gia đình ông Bùi Minh T4 cũng đã bàn giao cho gia đình ông Lưu Văn T5 thửa đất.

Sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông Bùi Minh T4, do không có nhu cầu sử dụng nên ông Lưu Văn T5 có chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 tại xóm C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho ông Nguyễn Văn M. Quá trình chuyển nhượng, các bên cũng lập thành hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã Đ xác nhận. UBND xã cũng cử cán bộ cắm mốc giới tại thực địa và cấp trích lục thửa đất số 207 bản đồ dân cư xóm C, xã Đ, thị xã B, tỉnh Bắc Ninh cho hộ ông Nguyễn Văn M. Sau khi hoàn thành thủ tục, ông M đã thanh toán cho ông T5 đủ tiền chuyển nhượng và nhận bàn giao thửa đất từ ông T5.

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, gông Nguyễn Văn M và gia đình đã sinh sống trên thửa đất từ năm 1999 cho đến nay. Quá trình sử dụng, ông M và gia đình có sửa chữa, xây dựng thêm công trình trên thửa đất mà không có tranh chấp với ai.

Đối với gia đình ông Bùi Minh T4, sau khi chuyển nhượng thửa đất, ông T4 và gia đình vẫn sinh sống trên địa bàn tại khu C, phường Đ. Sau khi ông T4 chuyển nhượng quyền sử dụng đất, những thành viên khác trong gia đình ông T4 đều biết về việc chuyển nhượng của ông T4. Quá trình gia đình ông M sử dụng công khai, gia đình ông T4 cũng không có ý kiến không có tranh chấp.

Với các nội dung trên thấy rằng, Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ ông Bùi Minh T4 với ông Lưu Văn T5 là do đại diện hộ gia đình ký kết. Sau khi ký kết hợp đồng, các bên đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng. Các thành viên khác trong hộ gia đình ông T4 có biết và phải biết việc gia đình mình đã chuyển nhượng thửa đất số 207 bản đồ dân cư xóm C, xã Đ cho người khác. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Lưu Văn T5 đã đại diện gia đình bán lại thửa đất cho ông Nguyễn Văn M. Sau khi ký hợp đồng các bên đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Việc mua bán giữa ông T5, ông M thì gia đình ông T5 đều biết và đồng ý không có ý kiến gì khác. Gia đình ông M đã sinh sống công khai, ổn định trên thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 tại Phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh từ năm 1999 cho đến nay. Như vậy, cần xác định 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Bùi Văn T6 và ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B; Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B với ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị V là có hiệu lực pháp luật. Và cần xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất của thửa dất số 207 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ (nay là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh) là của ông Nguyễn Văn M, bà Bùi Thị V2.

Xét Biên bản họp gia đình về việc phân chia quyền sử dụng đất ngày 01/12/2010 của gia đình ông Bùi Văn T1 thì thấy. Biên bản trên được lập sau khi ông Bùi Minh T4 mất với nội dung các con ông Bùi Minh T4, bà Nguyễn Thị D1 gồm ông Bùi Văn T1, ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị C1, bà Bùi Thị C2 và bà Bùi Thị H1 xác nhận giao cho ông Bùi Văn T1 được quyền sử dụng thửa đất số 207 và 209 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ. Biên bản trên có đủ chữ ký của những người lập và được UBND phường Đ xác nhận. Tuy nhiên, như đã lập luận, toàn bộ thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đã được chuyển nhượng cho gia đình ông Nguyễn Văn M từ năm 1999. Gia đình ông M cũng sinh sống, sử dụng công khai trên thửa đất trên cho đến nay mà không phát sinh tranh chấp với gia đình ông T4. Do vậy, các con ông T4 gồm ông T1, ông C, bà C1, bà C2 và bà H1 buộc phải biết ông T4 không còn tài sản là thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ và việc lập biên bản trên với mục đích sang tên quyền sử dụng đất cho ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H là vi phạm. Đối với việc xác nhận của UBND phường Đ đối với biên bản họp gia đình trên là có lỗi do chưa sát sao trong quản lý đất đai tại địa phương. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố Biên bản họp gia đình về việc phân chia quyền sử dụng đất ngày 01/12/2010 của gia đình ông Bùi Văn T1 là vô hiệu một phần đối với các thỏa thuận về thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 207 tờ bản đồ 03 (nay là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh), Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chức năng để sửa đổi, điều chỉnh, cấp lại... giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC704980; số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00496 ngày 31/12/2010 do UBND thành phố B cấp cho ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H đối với thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 có diện tích 185m² tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Do nguyên đơn đã rút lại yêu cầu trên nên cần đình chỉ giải quyết.

[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Do các chi phí trên đã được ông Nguyễn Văn M nộp cho Tòa án, ông T1, bà H có nghĩa vụ trả lại cho ông M số tiền trên.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 118, 119, 394, 395, 400, 404, 409, 411 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 221, 223 Bộ luật dân sự năm 2015,

Căn cứ Điều 3, 31, 73, 75 Luật đất đai năm 1993 sửa đổi bổ sung năm 1998, Điều 98, điểm c khoản 2 Điều 99, 166, 167, 168, 169, 170 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ vào các Điều: 26, 35, 39, 147, 184, 185, 217, 220, 227, 228, 235, 254, 262, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.

Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Bùi Văn T6 và bên nhận chuyển nhượng ông Lưu Văn T5, bà Nguyễn Thị B với nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 207, tờ bản đồ số 3, tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Hợp đồng trên được UBND xã Đ (nay là phường Đ) xác nhận) là có hiệu lực pháp luật.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bên chuyển nhượng ông Lưu Văn T5 và bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Văn M với nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 207, tờ bản đồ số 3, tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Hợp đồng trên được UBND xã Đ (nay là phường Đ) xác nhận) là có hiệu lực pháp luật.

Xác nhận ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị V có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất đối với thửa đất số 207, tờ bản đồ số 3 (nay là thửa đất số 59 tờ bản đồ 33) tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

Tuyên bố Biên bản họp gia đình về việc phân chia quyền sử dụng đất ngày 01/12/2010 của gia đình ông Bùi Văn T1 là vô hiệu một phần đối với các thỏa thuận về thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chức năng để sửa đổi, điều chỉnh, cấp lại... giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC704980; số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00496 ngày 31/12/2010 do UBND thành phố B cấp cho ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H đối với thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 có diện tích 185m² tại phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H phải trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền 12.000.000 đồng là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ông M đã nộp

3. Về án phí dân sự:

  • - Ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Ông Bùi Văn T1, bà Phương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Bắc Ninh
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Ninh
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Trường Trung

THÀNH PHẦN HĐXX

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Đức Phú

Bùi Quang Hợi

Phạm Trường Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thửa đất số 207 tờ bản đồ 03 tại Khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger