Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày 07 tháng 03 năm 2025

V/V: "Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Biên.
  2. Ông Trịnh Văn Nhất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 159/2024/TLST-DS ngày 04/11/2024 về “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 07/01/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 14/2025/QĐXXST-DS ngày 07/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH C; Địa chỉ: Số A, thôn N, xã D (nay là tổ dân phố N, phường D), thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H – Chức vụ: Giám đốc.
    (Có mặt)
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số nhà A, ngách A, ngõ A, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số nhà A, ngách A, ngõ A, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    (Vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Hà H2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
    (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn trình bày:

Công ty TNHH C được thành lập ngày 23/8/2019, hoạt động kinh doanh chủ yếu là phân phối vật tư và thi công chống sét trực tiếp và lan truyền dân dụng và công nghiệp. Ông là giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty.

Tháng 11/2022, vợ chồng chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 có đề nghị Công ty TNHH C bán vật liệu và thi công công trình chống sét cho anh Nguyễn Hà H2 tại địa chỉ thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị T, anh H1 nói rằng do chị T, anh Hồng L hệ thống điện cho anh H2, được anh H2 nhờ tìm đơn vị bán vật liệu và thi công công trình chống sét nên mới đề nghị Công ty TNHH C bán vật liệu và thi công công trình chống sét cho anh H2. Do quen biết chị T, anh H1 từ trước nên ông đồng ý. Tuy nhiên, giữa Công ty TNHH C và anh H2 không làm việc trực tiếp với nhau khi nào, không ký hợp đồng hay văn bản thoả thuận nào. Thực tế, việc Công ty TNHH C bán vật liệu và thi công công trình chống sét cho anh H2 là sự thoả thuận giữa Công ty TNHH C và vợ chồng chị T, anh H1 và hai bên cũng không ký hợp đồng hay văn bản thoả thuận nào.

Sau khi nhận lời với chị T, anh H1, trong tháng 12/2022, Công ty TNHH C đã trực tiếp bán vật liệu, thi công (lắp đặt) và hoàn thành công trình chống sét tại nhà anh H2. Tổng chi phí vật liệu và tiền công lắp đặt là 24.400.000 đồng. Sau khi lắp đặt xong, phía Công ty TNHH C cũng đã thông báo số tiền mà anh H1, chị T phải thanh toán cho là 24.400.000 đồng. Anh H1, chị T hẹn đến hết năm 2022 âm lịch thì thanh toán nhưng sau đó không thanh toán cho Công ty TNHH C.

Cùng tháng 11/2022, anh H1, chị T có mua vật tư chống sét tại Công ty TNHH C. Công ty TNHH C đã bán cho anh H1, chị T 01 bộ vật tư chống sét trị giá 12.360.000 đồng cho anh H1, chị T nhưng anh H1 chị T cũng nợ tiền, chưa thanh toán mà hẹn đến hết năm 2022 âm lịch khi thanh toán tiền vật liệu và tiền công lắp đặt công trình chống sét của nhà anh H2 thì sẽ thanh toán một thể nhưng sau đó cũng không thanh toán. Ngày 17/12/2022, chị T có vay số tiền 2.000.000 đồng, hẹn sẽ trả tiền mặt nhưng không trả.

Ngày 5/3/2023, anh H1, chị T lại tiếp tục mua vật tư chống sét tại Công ty TNHH C. Công ty TNHH C đã bán cho anh H1, chị T một số vật tư chống sét tổng trị giá 7.885.000 đồng cho anh H1, chị T nhưng anh H1 chị T mới chỉ trả 5.000.000 đồng, nợ lại 2.885.000 đồng chưa thanh toán, hẹn đến khi nào thanh toán tiền vật liệu và tiền công lắp đặt công trình chống sét của nhà anh H2, tiền mua 1 bộ vật tư chống sét tháng 11/2022 thì sẽ thanh toán cho Công ty một thể nhưng sau đó cũng không thanh toán.

Như vậy, tổng số tiền anh H1, chị T còn chưa thanh toán cho Công ty TNHH C là 41.645.000 đồng. Ngày 27/3/2023, Công ty TNHH C đã tổng hợp các khoản tiền mà anh H1, chị T còn nợ chưa thanh toán, yêu cầu chị T xác nhận và chị T đã ký xác nhận tại Bảng tổng hợp khoản nợ và vay. Chị T còn tự ghi vào Bảng tổng hợp khoản nợ và vay ngày 27/3/2023 là “hẹn đến 10/7 thanh toán” nhưng sau đó không thanh toán cho Công ty TNHH C.

Do nhiều lần yêu cầu chị T, anh H1 thanh toán nhưng đều không được nên Công ty TNHH C đã làm đơn khởi kiện tại Toà án tháng 01/2024. Tại Toà án, anh H1 và chị T đều thừa nhận còn nợ tiền Công ty TNHH C, hẹn đến hết tháng 5/2024 sẽ trả tiền nên Công ty TNHH C mới rút đơn khởi kiện nhưng sau đó anh H1 chị T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Nay Công ty TNHH C tiếp tục khởi kiện yêu cầu Toà án buộc chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 thanh toán số tiền 41.645.000 đồng.

*Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Mạnh H1 đều không đến Tòa án làm việc, không có văn bản thể hiện quan điểm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hà H2 trình bày:

Ngày 05/10/2022, giữa anh và anh Nguyễn Mạnh H1 có ký Hợp đồng thi công và cung ứng điện nước cho nhà anh tại thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giá trị các hạng mục thi công tạm tính (gồm nhân công, thi công chống sét và tiếp địa) là 110.000.000 đồng. Giá trị thanh toán các hạng mục sau khi công trình được quyết toán, nghiệm thu là 245.231.000 đồng. Anh đã thanh toán toàn bộ giá trị của Hợp đồng là 245.231.000 đồng cho chị T (vợ anh H1). Việc anh thanh toán cho chị T là do anh H1 yêu cầu, cung cấp số tài khoản và không có ý kiến gì. Anh đã hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán theo đúng quy định trong Hợp đồng thi công và cung ứng thiết bị điện nước, do đo tranh chấp giữa Công ty TNHH C với anh H1, chị T không liên quan đến anh. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

*Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ:

  • - Tại Bản tự khai ngày 20/2/2024, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 06/3/2024 (tài liệu sao lục từ hồ sơ dân sự thụ lý số 15/2024/TLST-DS ngày 23/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang), bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Chị có nhờ Công ty TNHH C làm công trình xây dựng và cung ứng vật tư với tổng số tiền công và tiền vật tư là 41.645.000 đồng, do hoàn cảnh khó khăn nên chưa thanh toán được cho Công ty. Vợ chồng chị xác nhận còn nợ Công ty TNHH C số tiền 41.645.000 đồng. Vợ chồng chị nhất trí sẽ trả dần số tiền trên cho Công ty TNHH C, đề nghị công ty tạo điều kiện cho vợ chồng chị trả dần số tiền trên chậm nhất đến ngày 31/5/2024 sẽ trả hết số tiền trên.
  • - Tại Bản tự khai ngày 04/3/2024 (tài liệu sao lục từ hồ sơ dân sự thụ lý số 15/2024/TLST-DS ngày 23/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H3 trình bày: Vợ chồng anh có nợ Công ty TNHH C số tiền 41.645.000 đồng là tiền công và tiền vật liệu xây dựng như nguyên đơn khởi kiện là đúng. Do mấy năm nay gia đình anh gặp khó khăn nên vợ chồng chưa trả được. Anh đề nghị Công ty TNHH C, tạo điều kiện cho vợ chồng anh trả nợ trong thời hạn 3 tháng từ nay đến tháng 5/2024 sẽ trả hết số tiền trên.

*Tòa án đã tiến hành mở phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay:

*Bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

*Nguyên đơn Công ty TNHH C do ông Nguyễn Văn H là người đại diện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 thanh toán số tiền 41.645.000 đồng.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:

  • - Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 thanh toán số tiền 41.645.000 đồng. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo quy định.
  • - Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Mạnh H1 đều vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hà H2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đảm bảo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Năm 2022-2023, công ty C có nhiều lần bán vật tư và thi công công trình chống sét theo đề nghị của chị T, anh H1. Đến ngày 27/3/2023 hai bên đã có Bảng tổng hợp khoản nợ và vay, xác nhận số tiền mà chị T, anh H1 cần phải thanh toán cho Công ty. Công ty TNHH C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị T, anh H1 phải thanh toán theo Bảng tổng hợp khoản nợ và vay ngày 27/3/2023 nên cần xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo quy định tại khoản 3 điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Tháng 11/2022, Công ty TNHH C có thoả thuận với chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 về việc Công ty TNHH C trực tiếp bán vật liệu, thi công (lắp đặt) và hoàn thành công trình chống sét tại nhà anh Nguyễn Hà H2 tại địa chỉ thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang với tổng chi phí vật liệu và tiền công lắp đặt là 24.400.000 đồng. Cùng tháng 11/2022, anh H1, chị T có mua 01 bộ vật tư chống sét trị giá 12.360.000 đồng của Công ty TNHH C. Ngày 17/12/2022, chị T có vay số tiền 2.000.000 đồng nhưng chưa thanh toán. Ngày 5/3/2023, anh H1, chị T lại tiếp tục mua một số vật tư chống sét tại Công ty TNHH C, tổng trị giá 7.885.000 đồng nhưng mới chỉ trả công ty số tiền 5.000.000 đồng, nợ lại 2.885.000 đồng chưa thanh toán.

Tại Bảng tổng hợp khoản nợ và vay ngày 27/3/2023 do Công ty TNHH C lập thể hiện các khoản tiền mà anh H1, chị T còn nợ chưa thanh toán là 41.645.000 đồng. Chị T đã ký xác nhận tại Bảng tổng hợp khoản nợ và vay này, đồng thời có ghi “hẹn đến 10/7 thanh toán”. Do anh H1, chị T không thanh toán đúng hạn nên tháng 01/2024 Công ty TNHH C đã khởi kiện anh H1, chị T tại Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang. Quá trình tham gia tố tụng trong vụ án dân sự thụ lý số 15/2024/TLST-DS ngày 23/01/2024 tại Toà án, chị T và anh H1 đều thừa nhận chưa thanh toán cho Công ty TNHH C số tiền 41.645.000 đồng.

Như vậy, có căn cứ xác định chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 chưa thanh toán cho Công ty TNHH C số tiền 41.645.000 đồng. Căn cứ các Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 351 của Bộ luật dân sự, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền 41.645.000 đồng được chấp nhận nên chị T và anh H1 phải chịu án phí theo dân sự sơ thẩm, số tiền án phí = 41.645.000 đồng x 5%= 2.082.000 đồng; Nguyên đơn Công ty TNHH C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 351 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH C về yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 thanh toán số tiền 41.645.000 đồng.
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Mạnh H1 phải chịu 2.082.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Công ty TNHH C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.041.000 đồng theo biên lai số 0002119 ngày 04/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Hoàng Gia A-Nguyễn Thị Thanh T "Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger