|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/DS-ST
Ngày 06 tháng 6 năm 2025
V/v: “Tranh chấp di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚCCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo; Bà Nguyễn Thị Tần.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6năm 2025,tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 vàQuyết định hoãn, Quyết định tạm ngưng phiên tòa, Quyết định Tạm đình chỉ, Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án; Thông báo mở lại phiên tòagiữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hoàng Kim S, sinh năm 1962. SĐT: 0389.509.xxx
Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1996.SĐT 0941.945.xxx. Xin xét xử văng mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T - Luật sư Công ty L3 - Đoàn luật sư thành phố H.
Đều có địa chỉ: Số B, ngõ A, phố M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Có mặt
Bị đơn: Ông Hoàng Kim B, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Q - Phó trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xét xử vắng mặt
UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H - Công chức địa chính xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Bà Hoàng Thị T1; sinh năm 1956. SĐT: 0383.840.xxx
Địa chỉ: Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964. SĐT: 0984.991.xxx (vợ ông S)
Người đạidiện theo ủy quyền: Ông Hoàng Kim S, sinh năm 1962.
Đêu có địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
SĐT: 0389.509.xxx. Bà Nguyệt vắng mặt, ông S có mặt
Anh Hoàng Trọng T2, sinh năm 1988. SĐT: 0989.985.xxx.(con ông S) .Xin vắng mặt
Anh Hoàng Duy T3, sinh năm 1989. SĐT: 0962.802.xxx. (con ông S). Xin vắng mặt
Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990. (vợ anh T3, đã ly hôn). Vắng mặt
Chị Hoàng Thị X, sinh năm 1991. (vợ của anh T2). Xin vắng mặt
Bà Hà Thị H2, sinh năm 1961. (vợ ông B). Vắng mặt
Chị Hoàng Thị H3, sinh năm 1984. (con ông B). Vắng mặt
Anh Hoàng Văn N1, sinh năm 1986 (con ông B). Vắng mặt
Anh Hoàng Mạnh C, sinh năm 1988 (con ông B). Vắng mặt
Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1990 (con ông B). Vắng mặt
Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1992 (con ông B). Vắng mặt
Đều có địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1952 (chồng bà X). Xin vắng mặt
Địa chỉ: Khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1978 (con bà X). Xin vắng mặt
Địa chỉ: Khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Số H, đường K, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. SĐT: 0345.485.xxx
Anh Nguyễn Đức T5; sinh năm 1982. SĐT: 0986.438.xxx.
Địa chỉ: A, khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.(con bà X) Có đơn xin xét xử vắng mặt (BL 67).
Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1973 (vợ anh H5). Vắng mặt
Địa chỉ: Khu B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1994. SĐT: 0976.032.xxx. (con anh H5)
Địa chỉ: Khu Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Xin vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị Kim L; sinh năm 1996.(con anh H5)
HKTT: Khu A, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: SN C, ngõ E P, quận C, thành phố Hà Nội. SĐT: 0856.393.xxx. Xin vắng mặt
Chị Hà Thị Đ2, sinh ngày 15/12/1987. (con ông N3)
Địa chỉ thường trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Số G, ngõ A, đoạn 3, T, xã N, huyện N, tỉnh Nghi Lan. Xin vắng mặt
Anh Hà Ngọc N2. sinh năm 1990. (con ông N3)
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Xin vắng mặt
Chị Hà Thị T6, sinh năm 1993. (con ông N3)
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn, ông Hoàng Kim S1 đại diện theo ủy quyền của ông S trình bày (BL 61,63):
Bố, mẹ ông là cụ Hoàng Kim T7 sinh năm 1920 ( mất năm 2009) và cụ Hán Thị X1, sinh năm 1922 (mất 2008), bố mẹ ông sinh được 03 người con là bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1956, ông Hoàng Kim B, sinh năm 1959 và ông là Hoàng Kim S, sinh năm 1962. Trước khi cụ X1 kết hôn với bố ông, cụ X1 lập gia đình với cụ Hà Văn L1 (mất năm 1952) và sinh được 01 người con là Hà Thị X2, sinh năm 1949 (mất năm 1990). Bố mẹ ông có khối tài sản chung là quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 848m2 tại địa chỉ: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, trong đó gồm có thửa đất số 27, tờ bản đồ 9a, diện tích 618m2 tại: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ mà ông B đã tự ý kê khai để xin cấp GCNQSDĐ và diện tích khoảng 230m2 giáp ranh thửa đất trên mà bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông để ra ở riêng từ năm 1987. Năm 1986, ông hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương và lấy vợ. năm 1987 bố mẹ ông cho vợ chồng ông diện tích đất khoảng 230m2 để ra ở riêng, năm 1988 vợ chồng ông xây nhà làm sân, tường rào và vườn tược trên diện tích đất bố mẹ ông cho, khi đó mọi người trong gia đình đều đồng ý không ai có ý kiến gì. Năm 1998 vợ chồng ông phá dỡ nhà cũ để xây dựng nhà mái bằng và bếp, lúc đó bố mẹ ông vẫn còn sống và đồng ý việc này, bố mẹ và các anh chị không có ý kiến gì. Ông bắc lấy vợ năm 1982 sau đó đi làm công nhân ở M, H nay là tỉnh Hà Giang. Khoảng năm 1983 ông B về quê làm việc, vợ chồng ông B ở cùng bố mẹ ông trong ngôi nhà mà trước đây cả gia đình cùng nhau xây dựng, sau khi ông lấy vợ, ông B có hành vi ngược đãi đuổi mẹ ông ra khỏi nhà từ đó mẹ ông sang ở với vợ chồng ông và nhập khẩu cnng gia đình ông không còn trong hộ khẩu của gia đình ông B nữa.năm 1998 ông bắc tự ý làm đơn xin cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông B đối với diện tích 618m2 của bố mẹ ông mà không được sự đồng ý của bố mẹ ông. Quyền sử dụng diện tích đất đó là của bố mẹ ông. Bố mẹ ông không đồng ý và cũng không ký vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ nên việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông B là không đúng.
Bố mẹ ông mất không để lại di chúc, di sản thừa kế mà bố mẹ ông để lại là QSDcó diện tích khoảng 848m2 tại khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Ông đề nghị giải quyết chia di sản thừa kế của cụ Hán Thị X1 và cụ Hoàng Kim T7 QSDĐ đối với diện tích 848m2 đất trên trong đó có thửa đất số 27, tờ bản đồ 9a, diện tích 618m2 và diện tích khoảng 230m2 giáp ranh thửa đất trên theo quy định của pháp luật. Tuyên hủy GCNQSDĐ số 411845 mang tên hộ ông Hoàng Kim B được UBND huyện T cấp ngày 11/9/1998.
Bị đơn ông Hoàng Kim B và những Người có quyền lợi liên quan là bà Hà Thị H2,chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn N1, anh Hoàng Mạnh C, anh Hoàng Văn D, anh Hoàng Văn T4 là vợ và con của ông B đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng những người này cố tình vắng mặt nên không có bản tự khai.
Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 301/TL-DSPT ngày 10/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có lời khai của ông B trình bày: Ông là anh trai ông Hoàng Kim S, năm 1998, gia đình ông được UBND huyện T cấp GCNQSD đất sốM1411845 diện tích là 618m2, trong đó có 300m2 đất ở và 318m2 đất vườn thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9A tại khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất này được hợp tác xã Đ3 cho gia đình ông từ đầu năm 1988. Ông S đã tự ý làm nhà lên một phần đất cấp cho gia đình ông, lúc đó do bố mẹ còn sống, nể tình anh em nên ông cho ông S ở nhờ. Nay ông S yêu cầu hủy GCNQSD đất UBND huyện T cấp cho gia đình ông, ông không đồng ý.
Tòa án sao chụp toàn bộ Bản đồ; sổ mục kê; sổ địa chính; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông B và bản đồ số hóa của thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a;trích lục bản đồ địa chính ngày 28/8/2021 để làm căn cứ giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T1 trình bày(BL 71): Năm 1946, mẹ bà là Hán Thị X1 (sinh năm 1922, chết 2008) kết hôn với cụHà Văn L2(chết năm 1952) và sinh được một người con là Hà Thị X2 (sinh năm 1949, chết năm 1990). Năm 1972 bà X2 kết hôn với ông Nguyễn Văn Đ1 và sinh được 4 người con là Nguyễn Văn H5 (sinh năm 1973, chết năm 2019); Nguyễn Tiến S2 (sinh năm 1976 chết năm 199, không có vợ con);Nguyễn Duy K, sinh năm 1978 và Nguyễn Đức T5, sinh năm 1982. Anh Nguyễn Văn H5 lập gia đình sinh được 02 người con là Nguyễn Văn H4, sinh năm 1994; Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1998; Năm 1952 cụ Hà Văn L1 hy sinh khi tham gia kháng chiến chống pháp.Năm 1954 mẹ bà là Cụ X3 hôn với bố bà là cụ Hoàng Kim T7 và sinh được03 người con là bà, ông Hoàng Kim B, sinh năm 1959 và ông là Hoàng Kim S, sinh năm 1962.
Bố mẹ bà có khối tài sản chung là quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 848m2 tại khu F, xã Đ. Thửa đất này có nguần gốc khi mẹ bà kết hôn với cụ L1 được bố mẹ cụ L1 cho diện tích đất này để ra ở riêng, khi cụ L1 mất.Năm 1954 mẹ bà kết hôn với bố bà là cụ Hoàng Kim T7 và sinh được ba chị em bà, kể từ đó gia đình bà sinh sống trên thửa đất này, riêng bà X2 kết hôn với ông Đ1 năm 1972 thì không sống chung cùng bố mẹ bà nữa, bà đi lấy chồng và ở nơi khác, ông S và ông bắc lấy vợ ở cùng bố mẹ trên thửa đất này. Năm 1986 ông S hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương lấy vợ, năm 1987 bố mẹ bà cho vợ chồng ông S ra ở riêng trên diện tích đất khoảng 230m2. Năm 1988 vợ chồng ông S xây nhà trên diện tích bố mẹ bà cho khi đó mọi người trong gia đình đều đồng ý, không ai có ý kiến gì, năm 1998 vợ chồng ông S tháo dỡ nhà cũ để làm nhà mới như hiện nay, lúc đó bố mẹ bà còn sống và đồng ý việc này. Ông B lấy vợ năm 1982sau đó đi làm công nhân ở M, H nay là tỉnh Hà Giang. Khoảng năm 1983 ông B về quê làm việc, vợ chồng ông B ở cùng bố mẹ bà trong ngôi nhà mà trước đây cả gia đình cùng nhau xây dựng, sau khi lấy vợ, ông B có hành vi ngược đãi đuổi mẹ ông ra khỏi nhà từ đó mẹ ông sang ởvà nhập khẩu cùng gia đình ông S không còn trong hộ khẩu của gia đình ông B nữa. Năm 2008 mẹ bà mất việc lo ma chay và thờ cúng mẹ bà do ông S đứng ra lo liệu, bố bà ở với ông Hoàng Kim B và mất năm 2009. Năm 1998 ông B tự ý làm đơn xin cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông bắc diện tích 618m2 không được sự đồng ý của bố mẹ bà. Di sản thừa kế mà bố mẹ ông để lại là QSD có diện tích khoảng 848m2 tại khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nay ông S khởi kiện chia di sản thừa kế thửa đất trên, bà được hưởng xuất thừa kế của bố mẹ bà để lại, bà cho ông Hoàng Kim S được toàn quyền sử dụng, định đoạt. Do bà ở xa nên xin vắng mặt các buổi làm việc tại Tòa án.
Tại bản khai bổ sung ngày 11/7/2023 bà Hoàng Thị T1 trình bày bổ sung (BL 286):Bà T1 thay đổi lời khai và có quan điểm từ trối nhận di sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T5, anh Nguyễn Duy K trình bày (BL 66 và BL 291): Anh T5 và anh K là con để của bà Hà Thị X2, sinh năm 1949 (mất năm 1990) và ông Nguyễn Văn Đ1. Mẹ anh là con đẻ của cụ Hán Thị X1 và cụ Hà Văn L1, bố mẹ anh kết hôn và sinh được 4 người con là Nguyễn Văn H5, sinh năm 1973 (mất năm 2019), Nguyễn Tiến S2, sinh năm 1976 mất năm 1991), nguyễn Duy K, sinh năm 1978 và anh là Nguyễn Đức T5. Năm 1952 ông ngoại anh là cụ Hà Văn L1 mất khi tham gia kháng chiến chống pháp, sau đó bà ngoại anh kết hôn với cụ Hoàng Kim T7 và sinh được03 người con là bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1956; ông Hoàng Kim B, sinh năm 1959 và ông là Hoàng Kim S, sinh năm 1962.Bà ngoại anh và cụ Hoàng Kim T7 có khối tài sản chung là QSDĐ đối với diện tích khoảng 848m2 tại khu F, xã Đ, huyện T. Cụ X1 và cụ T7 mất đều không để lại di chúc gì, mẹanh là con đẻ cụa cụ X1 nên sẽ được hưởng một phần di sản thừa kế của cụ X1 trong khối tài sản chung với cụ Hoàng Kim T7. Tuy nhiên mẹ anh mất trước bà ngoại anh nên anh được hưởng thừa kế thế vị một phần tài sản của mẹ anh được hưởng từ di sản thừa kế của bà ngoại anh.
Nay ông Hoàng Kim B là cậu anh đã tự ý kê khai và được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 27, tờ bản đò 9a, diện tích 618m2 tại địa chỉ: khu F xã Đ mang tên hộ ông Hoàng Kim B mà không được sự đồng ý của mọi người. Nay ông S khởi kiện chia di sản thừa kế thửa đất trên, nếu được hưởng thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật, anh T5 để lại cho ông Hoàng Kim S được toàn quyền sử dụng, định đoạt. Anh K từ chối nhận di sản. Do anh trang và anh K công tác xa nhà không có thời gia để tham gia các buổi làm việc tại Tòa án nên anh xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc của Tòa án.
Ngày 18/7/2023 anh Nguyễn Đức T5 thay đổi quan điểm(BL294):Từ chối nhận di sản.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim L và anh Hoàng Văn H6 trình bày (BL74 và 487): Chị L và anh H7 là con đẻ của ông Nguyễn Văn H5 chết năm 2019, ông H5 là anh của ông Nguyễn Đức T5. Chị L và anh H6 nhất trí theo trình bày và quan điểm của ông T5. Nếu được chi thừa kế, chị L xin nhận và cho ông S và ông B. Anh H6 từ chối nhận di sản.Chị L và anh H6 xin được vắng mặt tất cả các buổi làm việc ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm nếu có.
Người có quyền lợi liên quan anh Hoàng Trọng T2 và chị Hoàng Thị X, anh Hoàng Duy T3 trình bày(BL 478 và 484): Anh T2 và anh T3 là con đẻ của ông Hoàng Kim S, chị X là vợ anh T2 và là con dâu ông S.Anh T2, chị X và anh T3 không liên quan gì đến di sản thừa kế mà ông S khởi kiện. Anh T2 và chị X từ chối tham gia tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị Đ2, anh Hà Ngọc Nhất N2 và chị Hà Thị T8 trình bày:
Các anh chị đều là con của ông Hà Văn N3 (sinh năm 1965, chết năm 1996) và bà Lê Thị N4 (sinh năm 1966). Bố mẹ anh chị sinh được 03 người con là chị Hà Thị Đ2, anh Hà Ngọc N2 và Hà Thị T6. Ông nội anh chị là cụ Hoàng Kim T7 (sinh năm 1920, chết năm 2009). Khi bố các anh, chị còn sống thì anh chị được biết ông N3 là con riêng của cụ Hoàng Kim T7, ông N3 và cụ T7 có nhận nhau là cha con. Vì là con ngoài giá thú (con riêng) của cụ T7 nên ông N3 không lấy họ H8 theo họ của ông nội, trong giấy tờ nhân thân của ông N3 cũng không thể hiện cụ Hoàng Kim T7 là cha đẻ. Hiện nay, mẹ các anh và anh chị em vẫn qua lại với các bác là bà Hoàng Thị T1, ông Hoàng Kim B, ông Hoàng Kim S và các anh chị em họ – Là các con đẻ, các cháu của cụ Hoàng Kim T7 và cụ Hán Thị X1. Hai cụ Hoàng Kim T7 và cụ Hán Thị X1 khi chết có để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 830m tại địa chỉ: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vừa qua, các anh, chị được ông Hoàng Kim S đang khởi kiện ông Hoàng Kim B đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Kim T7 và cụ Hán Thị X1, có liên quan đến anh chị em. Ông S cũng đã đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa chúng tôi vào tham gia tố tụng trong vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2023/TLST-DS ngày 08/5/2023 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bố chúng tôi là ông Hà Văn N3 chết trước cụ Hoàng Kim T7 nên anh chị em tôi được hưởng thừa kế thế vị phần di sản mà bố anh chị em tôi được hưởng của cụ T7. Anh, chị em chúng tôi làm Bản tường trình này xin đưa ra quan điểm về việc giải quyết vụ án: Anh, chị em tôi xin từ chối nhận phần di sản của cụ Hoàng Kim T7 mà chúng tôi được hưởng thừa kế thế vị. Do bận công việc, không có điều kiện đi lại tham gia vụ án, anh, chị em tôi không đề nghị Tòa án mở lại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tôi xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làmviệc, các phiên tòa xét xử của Tòa án tại giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C1 đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng không đến Tòa án nên không có bản tự khai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện T (BL 277)và Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T trình bày (BL 461): Trên cơ sở hồ sơ tài liệu đang lưu trữ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T về việc cấp GCNQSD đất cho ông Hoàng Kim B, UBND huyện T và xã Đ có ý kiến như sau:
Thửa đất số 27. Tờ bản đỗ 9A có nguồn gốc từ bố mẹ ông Hoàng Kim B và Hoàng Kim S sử dụng trước thời điểm 15/10/1993. Năm 1987 ông Hoàng Kim S được bố mẹ lập gia đình và xây nhà cho ở riêng trên phần đất ông bà đang quản lý. Năm 1997 thực hiện chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà nước, ông Hoàng Kim B là người đăng ký kê khai cấp GCNQSD đất đối với toàn bộ diện tích đất bố mẹ ông B đang sử dụng tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a với diện tích là 618m² trong đó có 300m2 đất ở tại nông thôn (ONT) và 318m² đất vườn (đất trồng cây lâu năm: CLN). Được thể hiện trong đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất lập năm 1997 được UBND xã Đ xác nhận đủ điều kiện cấp GCNQSD đất và được UBND huyện T cấp GCNQSD đất số 411845, cấp ngày 11/9/1998.
Trên cơ sở nguồn gốc, thời điểm cấp GCNQSD đất năm 1998, Khi đó ông Hoàng Kim B và ông Hoàng Kim S đang ở cùng bố mẹ tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a do vậy tài sản là thửa đất trên thuộc quyền quản lý và sử dụng của bố mẹ ông B là ông Hoàng Kim T7 bà Hán Thị X1 khi đó còn sống và chưa được cấp GCNQSD đất. Do vậy việc UBND xã Đ xác nhận ông Hoàng Kim B đủ điều kiện để cấp GCNQSD đất là chưa đúng. UBND huyện T đồng ý với yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông Hoàng Kim B đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9A.
Ngày 07/9/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp nhưng gia đình ông Hoàng Kim S gây cản trở và không cho thẩm định và định giánên không thể thực hiện việc thẩm định và định giá tài sản trên đất.. Hội đồng chỉ tiến hành định giá quyền sử dụng đất và xác định giá đất ở là 1.800.000đ/1m2; giá đất vườn 95.000đ/1m2. (BL 346)
Tại biên bản xác minh tại Công an xã Đ: Ngày 31/3/2020 thành lập C2, Công an xã tiếp nhận sổ hộ khẩu của C3 chuyên trách chuyển lại. Trong đó có 03 quyền sổ của khu 6 xã Đ là khu đỗ S, xã Đ gồm 01 quyển số bìa học sinh có ghi khu 6, quyền số II không xác định thời điểm lập sổ năm nào, theo quyền sổ này có nghi Hoàng Kim S 679 (tức số hộ) thì hộ ông S gồm có 05 nhân khẩu do ông Hoàng Kim S, sinh năm 1962 làm chủ hộ, các thành viên: Vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1964, mẹ đẻ: Hán Thị X1, sinh năm 1922, con đẻ: Hoàng Trọng T2, sinh năm 1988, con đẻ: Hoàng Duy T3, sinh năm 1989.
Hộ ông Hoàng Kim B 699 (tức số hộ 699) gồm có 08 nhân khẩu là ông Hoàng Kim B, sinh năm 1959 làm chủ hộ; các thành viên gồm vợ: Hà Thị H2, sinh năm 1961; bố đẻ: Hoàng Kim T7, sinh năm 1920; con đẻ: Hoàng Thị H3, sinh năm 1984; con đẻ: Hoàng Văn N1, sinh năm 1986; con đẻ: Hoàng Mạnh C, sinh năm 1988; con đẻ: Hoàng Văn D, sinh năm 1990; con đẻ Hoàng Văn T4, sinh năm 1992.
01 Quyển sổ hộ khẩu mẫu N1 theo dõi nhân khẩu khu 6, xã Đ được lập ngày 01/01/2006 không có thông tin liên quan hộ ông Hoàng Kim S và ông Hoàng Kim B.
01 quyển sổ đăng ký hộ khẩu ở khu F xã Đ, mẫu NK3, tại trang có số hồ sơ hộ khẩu 679 có thông tin hộ ông Hoàng Kim S sinh năm 1962 chủ hộ và 03 thành viên gồm vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; con đẻ: Hoàng Trọng T2, sinh năm 1988; con đẻ Hoàng Duy T3, sinh năm 1989. Tại trang có số hồ sơ họ khẩu 699 có thông tin hộ ông Hoàng Kim B, sinh năm 1959 là chủ hộ và 07 thành viên gồm: vợ: Hà Thị H2, sinh năm 1961;bố đẻ: Hoàng Kim T7, sinh năm 1920; con đẻ: Hoàng Thị H3, sinh năm 1984; con đẻ: Hoàng Văn N1, sinh năm 1986; con đẻ: Hoàng Mạnh C, sinh năm 1988; con đẻ: Hoàng Văn D, sinh năm 1990; con đẻ Hoàng Văn T4, sinh năm 1992. Quyển sổ trên không thể hiện thời gian lập ngày tháng năm nào.
Đối với hộ ông Hoàng Kim B, ông Hoàng Kim T7 đã chết ngày 03/8/2009. Hoàng Thị H3 đã chuyển khẩu về nhà chồng năm 2018, Hoàng Văn N1 và Hoàng Mạnh C đều tách hộ tách hộ ở cùng khu nhưng không xác định được thời điểm;.
Đối với hộ ông Hoàng Kim S: Hoàng Duy T3 tách hộ ở cùng khu không xác định được thời điểm, bà Nguyễn Thị X4 đã chết .
Ông Hà Công T9 nguyên là T10 khu và nguyên là Công an viên khu 6 xã Đ, nay là khu Đ, xã Đ xác định từ năm 1998 đến 2010 ông nghỉ công an viênsang làm Trưởng khu, ông xác định năm 199 không có sổ sách mẫu, chỉ có ghi vào sổ theo dõi của khu nhưng do Công an xã quản lý, ông có ghi vào sổ học sinh bìa màu xanh có ghi khu 6 quyền số II, quyền sổ này do ông trực tiếp lập có ghi hộ khẩu của ông Hoàng Kim B và hộ khẩu ông Hoàng Kim S thì hộ ông B và hộ ông S có các thành viên như Công an xã đã trình bày ở trên. Hiện nay quyền vở học sinh có ghi theo dõi hộ khẩu ở khu 6 xã Đ mà Công an xã Đ đang quản lý.
Tại biên bản làm việc với UBND xã Đ công chức địa chính xã cung cấp theo số mục kê, sổ địa chính và GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Hoàng Văn B1 ngày 19/9/1998 có diện tích 618m2 (trong đó 300m2 đất ở, 318m2 đất vườn). theo biên bản hiện trạng năm 2019 có diện tích 830,4m2 tăng so với diện tích cấp GCNQSDĐ 212,4m2, do các hộ sung quanh sử dụng ổn định có tường xây ranh giới rõ ràng không có tranh chấp, diện tích tăng là do trước kia đo vẽ thủ công, nay đo vẽ bằng máy nên có sự sai số, diện tích đo vẽ thực tế 830,4m2 được xác nhận là diện tích thực tế để Tòa án giải quyết tranh chấp.
Theo GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Hoàng Văn B1, theo vụ án tranh chấp này các đương sự khai là Hoàng Kim B. Ông Hoàng Văn B1 trong GCNQSDĐ với ông Hoàng Kim B là một người.
Việc ông Hoàn Kim B2 có thế chấp GCNQSDĐvay vốn ngân hàng hoặc có cầm cố ở đâu không, theo như địa phương cho biết từ thời điểm ngày 01/8/2021 trở về đây không thấy ông B2 làm thủ tục vay vốn và thế chấp gì. Còn trước thời điểm 01/8/2021 trở về trước không nắm được.
Tại phiên tòa: Ông Hoàng Kim S và người bảo vệ quyền lợi cho ông S3 nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị chia di sản thừa kế của cụ T7 và cụ X4 để lại là quyền sử dụng đất có diện tích 830,4 m2 theo quy định của pháp luật, ông S đề nghị được sử dụng phần đất mà ông đã làm nhà ở, ông B2 sử dụng phần đất ông B2 đã làm nhà, tính công duy trì quản lý, cải tạo đất cho ông S và ông B2.Phần ông B2 sử dụng đất nhiều hơn phải thanh toán chênh lệch tài sản cho ông.
Về chi phí thẩm định giá: Ông Hoàng Kim S tự nguyện xin chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quan điểm:
Về tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà: Đã thực hiện theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Kim S về việc đề nghị chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và chấp nhận một phần khởi kiện của ông S về việc đề nghị Huỷ GCNQSD đất.
Huỷ một phần GCNQSD đất số 411485 do Chủ tịch UBND huyện T cấp ngày 11/9/1998 cho hộ ông Hoàng Kim B.
Xác định di sản thừa kế của cụ X4 và cụ T7 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ trị giá 590.388.000 đồng. Di sản được phân chia như sau:
+ Giao cho ông Hoàng Kim S quản lý và sử dụng phần diện tích 230,9m² (trong đó có 100m2 đất ở còn lại là đất vườn) trên đất có nhà và công trình do ông S xây dựng tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a.
+ Giao cho ông Hoàng Kim B quản lý và sử dụng phần diện tích 599,5m² (trong đó có 200m² đất ở còn lại là đất vườn) trên đất có nhà và công trình do ông B xây dựng tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a.
+ Căn cứ vào giá trị tài sản được giao buộc ông B thanh toán giá trị chênh lệch di sản thừa kế cho ông S và bà C1.
Về án phí: Theo quy định pháp luật
(Chi tiết bài phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa,ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Hoàng Kim S khởi kiện yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho Hộ ông Hoàng Văn B1 (Hoàng Kim B3) ngày 11/9/1998để chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Kim T7 và cụ Hán Thị X5 với Thửa đất số 27, tở bản đồ 9a tại xã Đ, huyện T, Phú Thọ theo quy địnhkhoản 5 Điều 26Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Vụ án có đương sự yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định tại điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọtheo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời hiệu: Cụ Hoàng Kim T7 sinh năm 1920 ( mất năm 2009) và cụ Hán Thị X1, sinh năm 1922 (mất 2008). Do vậy thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015.
Quá trình giải quyết, bị đơn là ông B1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà H2 là (vợ ông B1) và các con của ông B1 bà H2 là chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn N1, anh Hoàng Mạnh C, anh Hoàng Văn D, anh Hoàng Văn T11 đến Tòa án để giải quyết nên Tòa án không làm thủ tục hòa giảigiữa các bên đương sự với nhau được, UBND huyện T và UBND xã Đ đều xin vắng mặt. Do vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Phiên tòa lần 1, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông B1, bà H2 là vợ ông B1 và các con của ông B1 bà H2 là chị H3, anh N1, anh C, anh D, anh T4 vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng, Hội đồng xét xử ra Quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nayông B1, bà H2 và các con của ông B1 bà H2 là chị H3, anh N1, anh C, anh D, anh T12 được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do.Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông S, UBND huyện T và UBND xã Đ đều xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự,Hội đồng tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định .
[2] Về nội dung:
Cụ Hán Thị X1, sinh năm 1922 lập gia đình với cụ Hà Văn L1 (hy sinh năm 1952) được gia đình chồng cho đất để ở (đất đang tranh chấp hiện nay tại thửa đất số 27, tờ bản đồ 9a tại khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ). Cụ X1, cụ L1 có 01 người con là bà Hà Thị X2, sinh năm 1949 (chết năm 1990), bà X2 lấy chồng và ở nơi khác. Bà X2 có 03 người con là Nguyễn Văn H5(ông H5 chết năm 2019,tại thời điểm chết ông H5 có vợ là Nguyễn Thị C1 và hai con là Nguyễn Văn H4 và Nguyễn Thị Kim L), ông Nguyễn Duy K, ông Nguyễn Đức T5. Năm 1954, cụ X1 lấy cụ Hoàng Kim T7 và sinh sống tại thửa đất số 27, tờ bản đồ 9a tại khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cụ X1 và cụ Tứ sinh được ba người con là bà Hoàng Thị T1, ông Hoàng Kim B và ông Hoàng Kim S.Cụ T7 có 01 người con riêng là ông Hà Văn N3(sinh năm 1965, chết năm 1996) ông N3 không ở cùng cụ T7 và cụ X1. Ông N3 có 03 người con là Hà Thị Đ2, Hà Ngọc N2 và Hà Thị T6.
Bà T1 lấy chồng ở nơi khác. Ông Hoàng Kim B và ông Hoàng Kim S lấy vợ và ở cùng với hai cụ trên thửa đất này. Ông B lấy vợ trước, đến năm 1987 ông S lấy vợ sau đó ra ở riêng và làm nhà trên một phần đất thửa đất này, ông B ở với cụ T7, Cụ X1 ở với ông S. Năm 1997 thực hiện chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà nước, ông B là người đăng ký kê khai cấp GCNQSD đất đối với toàn bộ diện tích đất mà cụ T7, cụ X1 đang ở, UBND xã Đ xác nhận ông B đủ điều kiện cấp giấy vì vậy UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 411845 ngày 11/9/1998 cho ông B đối với thửa đất trên có diện tích 618m2 (trong đó đất ở 300m2, đất vườn 318m2).
Năm 2008 cụ X1 chết, năm 2009 cụ T7 chết không để lại di chúc.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng, định giá tài sản tranh chấp. Tuy nhiên, ông B và đình ông B đã cản trở không cho Đoàn công tác làm việc. Ông B, gia đình ông B đã đóng cổng giữ Đoàn công tác, có lời nói lăng mạ, xúc phạm, đe dọa thân thể của các thành viên Đoàn công tác, nếu tiếp tục thực hiện các công việc trên sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng của cán bộ thi hành công vụ và Hội đồng đồng định giá tài sản, đồng thời các thành viên Hội đồng định giá của huyện cũng từ chối tiếp tục tham gia nên Tòa án quyết định không thực hiện mà sẽ căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật như:
Ngày 16/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba tiến hành thẩm định diện tích đất đang tranh chấp của thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a xác định tài sản gắn liền trên đất có:
01 nhà xây mái bằng (trước đây ông S sử dụng, nay khóa cửa không ai sử dụng), diện tích khoảng 50m2/1 sàn, diện tích tổng thể khoảng 70m2. Số tầng xây dựng là 1,5 tầng, sung quanh có tường rào xây khoảng 1,5m (tường xây thô không chát, cổng sắt 02 cánh rộng khoảng 2,5m; cao khoảng 3,2m. Tất cả các hạng mục bên trong không quan sát được vì đương sự không hợp tác không cho vào bên trong.
01 nhà xây 02 tầng (hiện nay ông B đang sử dụng) chiều rộng khoảng 05m, chiều sâu khoảng 15 đến 17m. Tổng diện tích khoảng 170m2 cả hai sàn, sân trước khoảng 20m2; 01 lán và kho bán hàng, lợp mái tôn, diện tích khoảng 160m2.
Tòa án đã thu thập một chứng cứ tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với hồ sơ vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông S và ông B để làm căn cứ giải quyết.
Tuy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông B, nhưng thực tế thì ông B, ông S mỗi người vẫn sử dụng một phần của thửa đất, có khuôn viên riêng. Vì vậy, khi chỉnh lý lại bản đồ địa chính thì thửa đất số 27 có diện tích 830,4m2 được tách ra thành hai thửa là: Thửa 669, diện tích 599,5m² do ông B đang sử dụng, thửa số 668, diện tích 230,9m² do ông S đang sử dụng theo đúng hiện trạng sử dụng đất.
UBND xã Đ và công chức địa chính xã cung cấp theo sổ mục kê, sổ địa chính và GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Hoàng Văn B1 ngày 19/9/1998 có diện tích 618m2 (trong đó 300m2 đất ở, 318m2 đất vườn). Theo biên bản hiện trạng năm 2019 có diện tích 830,4m2 tăng so với diện tích cấp Giaays chứng nhận quyền sử dụng đất 212,4m2, do các hộ sung quanh sử dụng ổn định có tường xây ranh giới rõ ràng không có tranh chấp, diện tích tăng là do trước kia đo vẽ thủ công, nay đo vẽ bằng máy nên có sự sai số, diện tích đo vẽ thực tế 830,4m2 được xác nhận là diện tích thực tế của cụ X1 và cụ T7 để lại.
Do vậy xác định di sản của cụ T7 và cụ X1 để lại 830,4 m2 đất (trong đó có 300m2 đất ở, 530,4 m2 đất vườn).
Về đề yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Theo các chứng cứ do UBND huyện T xác định: Vào thời điểm cấp GCNQSD đất năm 1998, khi đó ông Hoàng Kim B và ông Hoàng Kim S đang ở cùng bố mẹ tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a do vậy thửa đất trên thuộc quyền quản lý và sử dụng của bố mẹ ông B là cụ T7, cụ X1 khi đó còn sống và chưa được cấp GCNQSD đất. Việc UBND xã Đ xác nhận ông Hoàng Kim B đủ điều kiện để cấp GCNQSD đất là chưa đúng nên UBND huyện T cấp GCNQSD cho ông B là không đúng. UBND huyện T cũng đề nghị hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông B thửa đất trên. Do vậy cần phải hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 411845cấp cho ông B đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9ađể chia di sản thừa kế của cụ X6 và cụ T7 để lại theo quy định của pháp luật.
Về hàng thừa kế và những người được hưởng di sản thừa kế:
Hàng thừa kế thứ nhất cụ X1 gồm có cụ T7 và 04 người là: Ông Hoàng Kim B, Hoàng Kim S, Hoàng Thị T1 và Hà Thị X2. Do bà X2 đã mất năm 1990 nên những người con của bà X2 được hưởng thừa kế thế vị là Nguyễn Văn H5, ông Nguyễn Duy K, Nguyễn Đức T5. Ông H5 đã mất năm 2019, tại thời điểm mất có vợ là Nguyễn Thị C1 và hai con là Nguyễn Văn H4 và Nguyễn Thị Kim L nên những người này được hưởng suất thừa kế thế vị của ông H5.
Hàng thừa kế thứ nhất cụ T7 gồm có 04 người là: Ông Hoàng Kim B, Hoàng Kim S, Hoàng Thị T1 và ông Hà Văn N3, do ông N3 đã mất năm 1996 nên những người con của ông N3 là chị Hà Thị Đ2, Hà Ngọc N2 và Hà Thị T6 được hưởng di sản thừa kế thế vị của ông N3.
Về di sản thừa kế và chia di sản thừa kế:
Di sản thửa của cụ X1, cụ T7 để lại là thửa đất số 27, tờ bản đồ 9a có diện tích 830,4 m2 đất có trị giá 590.388.000đồng (trong đó có 300m2 đất ở = 540.000.000đồng; đất vườn 530,4m2 = 50.388.000đồng). Khi các cụ chết không để lại di chúc nên chia theo pháp luật.
Di sản của cụ X1:
Là ½ quyền sử dụng thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ tương ứng 415,2m2 có trị giá 295.194.000đồng. Trong đó có 150m2 đất ở trị giá 270.000.000đồng; 265,2m2 đất vườn trị giá 25.194.000 đồng. Do ông S là người quản lý di sản trong nhiều năm phần di sản của cụ X1 từ khi cụ chết nên ông S được hưởng thêm 1 suất thừa kế là phù hợp. Mặt khác bà T1 từ chối nhận di sản nên phần di sản của cụ X1 được chia làm 5 phần gồm cụ T7, bà X2, ông B mỗi người 1 phần là 83,04m2 có trị giá 59.038.800đồng (trong đó 30m2 đất ở = 54.000.000đồng + 53,04m2 đất vườn = 5.038.800đồng”.
Ông S được hưởng 02 phần là 60m2 đất ở (là phần ông S được hưởng và công quản lý di sản) + 7,5m2 đất ở là phần của chị L cho = 67,5m2 đất ở có trị giá 121.500.000đồng; 106,08m2 đất vườn (là phần ông S được hưởng và công quản lý di sản) + 13,26m2 đất vườn do chị L cho. Tổng là 119,34m2 có trị giá 11.337.300 đồng.
Ông B được hưởng 30m2 đất ở phần của ông B hưởng + 7,5m2 đất ở do chị L cho = 37,5m2 có trị giá 67.500.000đồng và 53,04m2 đất vườn phần của ông B hưởng + 13,26m2 đất vườn do chị L cho = 66,3m2 đất vườn có trị giá 6.298.500đồng. Tổng ông B được hưởng 103.8m2 có trị giá 73.798.500 đồng.
Bà C1 được hưởng 41,52m2 có tổng trị giá 29.519.400 đồng (trong đó 15m2 đất ở có trị giá 27.000.000đồng + 26,52m2 đất vườn có trị giá 2.519.400đồng”.
Di sản của cụ T7:
Là ½ quyền sử dụng thửa đất số 27, tờ bản đồ số 9a tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ là 150m2 đất ở và 265,2m2 đất vườn + 1 suất thừa kế của cụ T7 được hưởng của cụ X1 30m2 đất ở + 53,04m2 đất vườn. Tổng di sản thừa kế của cụ T7 498,24m² (trong đó có 180m2 đất ở = 324.000.000đồng; 318.24m2 đất vườn = 30.232.800đồng). Tổng 354.232.800 đồng. Do ông B là người quản lý di sản trong nhiều năm từ khi các cụ T7 chết nên ông B được hưởng thêm 1 suất thừa kế là phù hợp. Đồng thời bà T1 có quan điểm từ chối nhận di sản; các anh chị Đ2, anh N2 và chị T6 cũng có quan điểm từ chối nhận di sản thừa kế thế vị của ông N3 nên di sản của cụ T7 sẽ chia làm 03 phần trong đó ông S được hưởng 1 phần là 166,08m có trị giá 118.077.600đồng (trong đó 60m2 đất ở có trị giá 108.000.000đồng; 106,08m2 đất vườn có trị giá 10.077.600đồng; ông B được hưởng 2 phần (phần hưởng di sản của cụ T7 và phần công sức quản lý) là 332,16m2 có trị giá 236.155.200đồng (trong đó 120m2 đất ở = 216.000.000đồng và 212.16m2 đất vườn = 20.155.200đồng).
Như vậy:
Tổng giá trị di sản thừa kế của ông S được hưởng 352.92m2 có trị giá 250.914.900 đồng (trong đó có 127.5 m2 đất ở có trị giá 229.500.000đồng; 225,42m2 đất vườn có trị giá 21.414.900đồng).
Tổng giá trị di sản thừa kế của ông B được hưởng là 435.96m2 đất có trị giá 309.953.700 đồng (trong đó 157.5m2 đất ở có trị giá 283.500.000đồng và 278.46m2 đất vườn có trị giá 26.453.700đồng).
Bà C1 được hưởng 41,52m2 có trị giá 29.519.400 đồng (trong đó 15m² đất ở có trị giá 27.000.000đồng và 26,52 m² đất vườn có trị giá 2.519.400đồng).
Do hiện nay trên đất được phân chia thành 02 khu vực và có ranh giới rõ ràng, khu vực thứ nhất có nhà và công trình trên đất của ông S; khu vực thứ hai có nhà và công trình trên đất của ông B. Phần diện tích đất của bà C1 được hưởng từ di sản của cụ X1 là 41,52m2 (trong đó 15m2 đất ở và 26,52 m2 đất vườn) chưa đủ điều kiện cấp GCNQSD đất theo Quyết định số 16/2024/QĐ-UBND ngày 01/8/2024 của UBND tỉnh P, quá trình giải quyết vụ án bà C1 cũng không đến nên không có quan điểm. Vì vậy, khi phân chia di sản cụ X1 và cụ T7 bằng hiện vật thì chỉ giao đất cho ông S và ông B tương ứng với diện tích thực tế nhà mà đất của hai ông đang ở, căn cứ vào diện tích thực tế quy đổi theo giá trị để thanh toán chênh lệch cho nhau và thanh toán giá trị di sản thừa kế cho bà C1 là phù hợp.
Như vậy xác định ông S được hưởng 299,88m2 có trị giá 250.914.900đồng (trong đó 127,5m2 đất ở; 225,42m2 đất vườn).
Cần giao cho ông S 230,9 m2 (trong đó có 100m2 đất ở có trị giá 180.000.000đồng; 130,9m2 đất vường có trị giá 12.435.500đồng).
Xác định ông B được hưởng 435.96m2 đất có trị giá 309.953.700 đồng (trong đó 157.5m2 đất ở có trị giá 283.500.000đồng và 278.46m2 đất vườn có trị giá 26.453.700đồng).
Cần giao cho ông B 599,5m2 có trị giá 456.341.900đồng (trong đó 200m2 đất ở có trị giá 360.000.000đồng; 399,5m2 đất vườn có trị giá 96.431.900đồng).
Buộc ông B phải thanh toán chênh lệch trị giá quyền sử dụng đất cho ông S số tiền 58.479.400 đồng và thanh toán cho bà C1 số tiền 29.519.400 đồng là phù hợp.
Chi phí thẩm định: Tổng số tiền 13 triệu đồng, do ông S xin tự nguyện chịu toàn bộ chi phí nên cần xác nhận..
Về án phí: Ông B và ông S được miễn án phí do là người cao tuổi. Tuy nhiên, hai ông phải chịu án phí đối với phần di sản được chị L tặng cho tương ứng mỗi người phải chịu 737.000 đồng.
Bà C1 phải chịu án phí tương ứng với phần di sản mà mình được nhận là 1.475.000 đồng
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 157; Điều 611, 612, 613, 614, khoản 2 Điều 616, khoản 2 Điều 618, khoản 1 Điều 623, Điều 649, Điều 650, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651, Điều 652 khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 34; Điều 35, 37 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. khoản đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Kim S.
Xác nhận di sản thừa kế của cụ Hán Thị X1 và cụ Hoàng Kim T7 là quyền sử dụng đất 830,4m2 trị giá 590.3 88.000đồng (trong đó đất ở 300m2 = 540.000.000đồng, đất vường 530,4m2 = 50.388.000đồng).
Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 411845 do UBNDhuyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã cấp ngày 11/9/1998 cho hộ ông B đối với thửa đất ở, đất vườn số 27, tờ bản đồ số 9a, tại khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Giao cho ông Hoàng Kim S, bà Nguyễn Thị N được sở hữu và sử dụng phần diện tích 230,9m2 đất (trong đó có 100m2 đất ở = 180.000.000đồng; 130,9m2 đất vườn = 12.435.500đồng) theo chỉ giới 2,3,4,5,6,7,16,17,18,2 theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 28/8/2019 kèm theo Bản án này. Trên đất có nhà và các công trình do ông S và bà N xây dựng.
Giao cho ông H9 Kim Bắc sở hữu và sử dụng phần diện tích 599,5m2 đất (trong đó 200m2 đất ở = 360.000.000đồng và 399,5m2 đất vườn = 37.952.500đồng) theo chỉ giới 1,2,18,17,16,7,8, 9,10,11,12,13,14,15,1 theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 28/8/2019 kèm theo Bản án này. Trên đất có nhà và các công trình do ông B và bà H2 đã xây dựng.
Buộc ông Hoàng Kim B thanh toán trị giá quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Kim S, bà Nguyễn Thị N số tiền 58.479.400 đồng (năm mươi tám triệu bốm trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm đồng) và thanh toán trị giá quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị C1 số tiền 29.519.400 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm mười chín nghìn bốn trăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Người có nghĩa vụ thi hành án không tự nguyện thi hành án thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Ông Hoàng Kim S, ông Hoàng Kim B có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định của Bản án này. .
[2] Chi phí tố tụng: Ông S tự nguyện xin chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Xác nhận ông S đã nộp đủ 13 triệu đồng.
[3] Án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm chia di sản cho ông Hoàng Kim S và ông Hoàng Kim B.
Ông Hoàng Kim S phải chịu phần di sản được chị Nguyễn Thị Kim L tặng cho tương ứng số tiền 737.000 đồng (bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng). Xác nhận ông Hoàng Kim S đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003268 ngày 14/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Ông S còn phải nộp 437.000 đồng (bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Ông Hoàng Kim B phải chịu phần di sản được chị Nguyễn Thị Kim L tặng cho tương ứng số tiền 737.000 đồng (bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị C1 phải chịu án phí tương ứng với phần di sản mà mình được nhận là 1.475.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết hợp lệđể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại khoản 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Văn Toàn |
Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 12/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia di sản thừa kế giữa ông S và ông B
