|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/DS-PT Ngày 20-02-2025 V/v: “Tranh chấp lối đi chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương.
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Hân
- Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại điện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2025/QĐXXPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 15/2025/QĐPT-DS ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- - Ông Hoàng Văn P - Sinh năm 1953.
- Địa chỉ: Số nhà A, ngách A, Tổ A, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
- - Ông Hoàng Văn L - Sinh năm 1956.
- Địa chỉ: Nhà số E - Lô D, khu đô thị E ha, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Văn P và ông Hoàng Văn L: Ông Đỗ Khắc D - Công ty L5.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hoàng Văn P và Hoàng Văn L: Luật sư Trần Thị C - Công ty L5.
Địa chỉ: Tầng F, số A T, tổ A, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Anh Hoàng Nhân N - Sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị G - Sinh năm 1959.
- Địa chỉ: Số nhà F, đường A, khu dân cư M, Kp3, P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Hoàng Đình Đ - SN 1963 và bà Vũ Thị Hồng V - SN 1969.
- Địa chỉ: N Lô B, I B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng.
- Bà Hoàng Thị V1 - Sinh năm 1966.
- Địa chỉ: Nhà B Lô D khu 5,21 ha, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
- Bà Hoàng Thị T - Sinh năm 1959.
- Địa chỉ: Số nhà H, ngõ C, tổ C, L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- Bà Hoàng Thị D1 - Sinh năm 1966.
- Địa chỉ: Số nhà A, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Hoàng Xuân N1 - Sinh năm 1969.
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Ông Hoàng Quốc B - Sinh năm 1974.
- Địa chỉ: Số nhà E, tổ C, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Hoàng Thúy A - Sinh năm 1990.
- Địa chỉ: Số E, đường V, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Bà Hoàng Thị Ngọc T1 - Sinh năm 1965.
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Chị Hoàng Thị Ngọc D2 - Sinh năm 1994.
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Chị Hoàng Ngọc T2 - Sinh năm 1998.
- Địa chỉ: Số nhà C, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà V1: Bà Cao Thị H, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Nhà số E - Lô D, khu đô thị E ha, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền của bà T1: Anh Hoàng Nhân N - Sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
(Có mặt ông P, ông L, ông D, luật sư C, anh N, ông N1, bà H là người đại diện theo uỷ quyền của bà V1; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn - ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L trình bày: Bố mẹ các ông là cụ Hoàng Văn T3, chết năm 1998 và cụ Vũ Thị T4, chết năm 2014. Bố mẹ các ông sinh được 05 người con gồm: Ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L, bà Hoàng Thị G, ông Hoàng Đình Đ, bà Hoàng Thị V1. Bố mẹ các ông không có con nuôi, con riêng. Khi bố mẹ các ông chết không có di chúc, để lại di sản cho anh chị em các ông gồm:
+ Theo bản đồ 299: Bố mẹ các ông (cụ T3, cụ T4) sử dụng 3 thửa đất gồm: Thửa số 287, diện tích 182m² loại đất ở, thửa số 264 diện tích 224m² loại đất ở, thửa số 263 diện tích 112m² loại đất ao. Tất cả các thửa đất theo bản đồ 299 đều mang tên cụ Hoàng Văn T3 (bố các ông).
Nguồn gốc hai thửa đất số 287 và số 264 bố mẹ các ông sử dụng là của cụ Hoàng Nhân H1 và cụ Phạm Thị B1 (ông bà nội các ông) để lại thừa kế cho cụ T3, cụ T4 (bố mẹ các ông). Theo các cụ truyền lại, trên dưới 100 năm trước đây, cụ Hoàng Văn T5 (cụ nội của anh Hoàng Nhân N) có bán cho cụ Hoàng Nhân H1 (ông nội các ông) thửa đất 287 diện tích 182m² và bán cho cụ Vũ Văn T6 thửa đất 264 diện tích 224m², phần diện tích còn lại phía trong thuộc thửa 288 cụ Hoàng Văn T5 giữ lại để ở và sử dụng (hiện tại anh Hoàng Nhân Nghĩa L1 chắt của cụ T5 đang quản lý, sử dụng). Khi bán đất cho cụ H1 và cụ T6, các cụ có thỏa thuận để diện tích đất làm lối đi chung từ đường chính vào phần đất của 03 gia đình (cụ T5, cụ H1 và cụ T6). Sau đó, cụ T6 bán lại thửa đất số 264 diện tích 224m² cho cụ H1. Như vậy, ông bà nội và bố mẹ các ông sử dụng ngõ đi khoảng từ năm 1927 đến nay. Trước kia, các cụ chuyển nhượng đất cho nhau thủ tục rất đơn giản, có viết giấy tờ mua bán giữa các gia đình nhưng đã quá lâu nên bị thất lạc. Khi cụ T5 bán đất cho cụ H1 và cụ T6 thì 3 gia đình sử dụng lối đi chung có từ trước đây, sau đó các đời con cháu trưởng thành liên tục sử dụng chung lối đi không có ai tranh chấp với ai. Hiện nay, lối đi chung chỉ còn anh em các ông với gia đình anh Hoàng Nhân N đang sử dụng.
+ Theo bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2020 gia đình các ông sử dụng 3 thửa đất: Thửa đất 287 chuyển thành thửa 248 diện tích 187m² loại đất ở và thửa đất 264 chuyển thành thửa 246 diện tích 393,4m² loại đất ở, thửa đất 263 chuyển thành thửa 245 diện tích 130,7m² loại đất ao đều mang tên ông Hoàng Đình Đ và bà Vũ Thị Hồng V (em trai và em dâu các ông). Lý do 3 thửa đất đứng tên ông Đ, bà V vì để thuận lợi cho việc liên hệ làm việc với Uỷ ban nhân dân (UBND) xã H nên 5 anh em đã lập văn bản ủy quyền cho ông Hoàng Đình Đ đứng lên làm thủ tục về đất đai của bố mẹ nên cơ quan đo đạc ghi tên người đang sử dụng đất là ông Hoàng Đình Đ, vợ là Vũ Thị Hồng V song trên thực tế thửa đất 248 và thửa đất 246 hiện nay do 5 anh chị em các ông gồm P, L, G, Đ, V1 thay phiên nhau quản lý và sử dụng chưa phân chia thừa kế, còn ông Đ, bà V sinh sống ở Hải Phòng không trực tiếp quản lý sử dụng các thửa đất 248 và 246.
Theo di nguyện của các cụ, sau mấy chục năm đi thoát ly công tác, năm 2006 anh em các ông về cùng góp công, góp sức xây dựng lại khu thờ tự của gia đình tại thửa 248 còn thửa 246 giữ lại nhà cũ để làm chỗ nghỉ ngơi ngày giỗ tết anh em con cháu đi về. Gia đình các ông đặt vấn đề với anh N cùng đóng góp để tôn tạo lối đi chung cho khang trang, sạch đẹp nhưng anh N không đồng ý dẫn đến tranh chấp mâu thuẫn nên các ông đã có đơn gửi chính quyền địa phương và được chính quyền địa phương hòa giải yêu cầu 2 bên giữ nguyên hiện trạng lối đi đang sử dụng để chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, anh N không chấp hành. Tháng 3/2023, anh N tự ý vận chuyển vật liệu đổ gạch tràn ra lối đi, đồng thời hàn các thanh sắt chắn ngang cản trở việc đi lại của gia đình các ông. Anh N cho rằng lối đi chung này là của các cụ nhà anh N cho các hộ đi nhờ, nay anh N không cho sử dụng nữa. Do vậy, các ông gửi đơn đến chính quyền yêu cầu giải quyết liên quan đến tranh chấp lối đi chung, qua 3 lần hòa giải ở cấp xã nhưng đều không đạt kết quả. Nay các ông đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
+ Yêu cầu anh Hoàng Nhân N giữ nguyên hiện trạng lối đi chung của 2 gia đình do các cụ ngày xưa đã sử dụng chung liên tục qua nhiều thế hệ không có tranh chấp đến nay đã trên dưới 100 năm.
+ Yêu cầu anh Hoàng Nhân N chấm dứt các hành vi cản trở việc đi lại của gia đình nguyên đơn, thu dỡ và trả lại nguyên trạng diện tích đất lối đi chung liên tục từ trước tới nay của 2 gia đình.
* Tại bản tự khai; Biên bản ghi lời khai và trong quá trình tố tụng Bị đơn - anh Hoàng Nhân N trình bày: Thửa đất 247 diện tích 856,4m² trước kia là của cụ Hoàng Văn T5 (cụ nội anh), khi cụ nội chết để lại cho ông bà nội anh là cụ Hoàng Văn H2 và cụ Vũ Thị T7 sử dụng, sau đó ông bà nội để lại cho bố anh là ông Hoàng Mạnh N2 sử dụng. Khi bố anh chết để lại cho anh quản lý, sử dụng. Thửa đất 247 diện tích đất 856,4m² là của cụ Hoàng Văn H2 và cụ Vũ Thị T7 đều đã chết nhưng chưa được phân chia di sản thừa kế. Ông bà nội anh sinh được 5 người con là bà Hoàng Thị T, ông Hoàng Mạnh N2 (bố anh - đã chết), bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Xuân N1, ông Hoàng Quốc B. Ông Hoàng Mạnh N2 (bố anh) có hai vợ, vợ cả là bà Hoàng Thị L2 (mẹ anh - đã ly hôn) sinh ra anh và em gái Hoàng Thúy A, vợ hai là bà Hoàng Thị Ngọc T1 sinh được chị Hoàng Thị Ngọc D2 và chị Hoàng Ngọc T2.
Thửa đất 247 của gia đình anh bao gồm cả ngõ đi, thông ra đường giao thông của ngõ xóm, ngõ đi liền thửa, không có vạch ngăn cách, ngõ đi có chiều rộng khoảng 2m, dài khoảng 12m, tiếp giáp và ngăn cách với hai mảnh đất của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L. Ngõ đi của gia đình anh lịch sử đã có từ trước khi gia đình ông P, ông L đến sinh sống. Mấy chục năm qua, gia đình anh liên tục sử dụng kiến thiết, tôn tạo đổ bê tông ngõ đi, toàn bộ mọi kinh phí đều do gia đình anh bỏ ra trong quá trình sửa chữa nâng cấp.
Năm 2006 gia đình ông P, ông L tu sửa nhà và đổ tràn nguyên vật liệu ra ngõ, xây cổng lấn ra diện tích ngõ khiến cho gia đình anh đi lại khó khăn. Anh đã báo cáo chính quyền về việc vi phạm của gia đình ông P, ông L, UBND xã đã lập biên bản và yêu cầu gia đình ông L, ông P phải xây lui cổng vào, đồng thời phải thu dọn vật liệu xây dựng để trả lại mặt bằng ngõ đi cho gia đình anh nhưng gia đình ông P, ông L không thực hiện, gia đình anh phải tự vệ sinh, thu dọn vật liệu để lấy ngõ đi dẫn đến hai bên gia đình phát sinh mâu thuẫn.
Thời điểm năm 2006, gia đình anh làm đơn xin xác nhận về quyền sử dụng ngõ đi, bà con lối xóm, bao gồm các cụ 50-60 tuổi đảng đã xác nhận, đồng thời UBND xã H có văn bản trả lời ngõ đi hiện nay là ngõ đi riêng thuộc quyền sử dụng của gia đình cụ Hoàng Văn H2 (ông nội anh).
Năm 2020 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T về khảo sát đo đạc lại toàn bộ diện tích đất các hộ dân trong xã, đơn vị đo đạc tự ý đưa diện tích ngõ của gia đình anh là ngõ đi chung. Gia đình anh đã làm đơn đề nghị UBND xã H và UBND xã H trả lời bằng Công văn số 25/UBND-TP ngày 27/12/2021 xác định phần diện tích ngõ đi vẫn thuộc quyền sử dụng riêng của gia đình anh, không phải là ngõ đi chung của gia đình anh và gia đình ông P, ông L.
Năm 2023, anh có ý định cải tạo nhà cửa ngõ đi nên đã chuyển chở gạch vật liệu xây dựng về ngõ thì gia đình ông P, ông L gửi đơn lên UBND xã H tranh chấp ngõ đi với anh. UBND xã H mời hai bên gia đình lên hòa giải 02 lần nhưng không thành, sau đó ông Hoàng Đình Đ em trai ông Hoàng Văn P có sang nói chuyện với gia đình anh xin được đổi ngõ. Vì tình cảm gia đình gia anh đã nhất trí đổi ngõ để thuận tiện cho hai bên, buổi đo đạc đất đổi ngõ được diễn ra dưới sự chứng kiến của chính quyền địa phương nhưng sau đó gia đình ông P, ông L thay đổi và không đổi ngõ cho anh nữa.
Nay anh không đồng ý cho gia đình ông P, ông L đi chung ngõ, anh chỉ đồng ý với phương án, diện tích ngõ gia đình anh đang sử dụng sẽ chuyển cho gia đình ông P, ông L sử dụng nhưng gia đình ông P, ông L phải cắt cho anh một phần diện tích đất tại thửa 246 để anh sử dụng đi ra đường giao thông (đất phía đông) không liên quan đến ngõ đi cũ để tránh mâu thuẫn phức tạp.
* Ý kiến của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hoàng Đình Đ trình bày: Ông đồng ý với nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của hai anh là ông P và ông L. Yêu cầu anh Hoàng Nhân N giữ nguyên hiện trạng lối đi chung của 2 gia đình do các cụ ngày xưa đã sử dụng chung liên tục, qua nhiều thế hệ, không có tranh chấp đến nay trên dưới 100 năm.
Năm 2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T về đo hiện trạng đất đai trên địa bàn xã H, để thuận tiện cho việc liên hệ làm việc thì 5 anh em lập văn bản ủy quyền cho ông đứng lên làm thủ tục về đất đai của bố mẹ, vì vậy cơ quan đo đạc đã ghi tên người sử dụng đất là ông Hoàng Đình Đ và vợ ông là bà Vũ Thị Hồng V. Thực tế thửa đất 248 và thửa đất 246 hiện nay do 5 anh em các ông gồm P, L, G, Đ, V1 thay phiên nhau quản lý, sử dụng, vợ chồng ông không trực tiếp quản lý sử dụng 2 thửa đất 248 và 246. Bà V (vợ ông) không liên quan gì đến thửa đất của bố mẹ để lại cho 5 anh em ông.
Nay ông yêu cầu anh Hoàng Nhân N chấm dứt các hành vi cản trở việc đi lại lối đi chung của gia đình ông. T8 dỡ và trả lại nguyên trạng diện tích đất lối đi chung liên tục từ trước tới nay của 2 gia đình.
2. Tại Đơn trình bày ý kiến bà Hoàng Thị G và bà Hoàng Thị V1, bà Vũ Thị Hồng V trình bày: Bố mẹ các bà đồng thời là bố mẹ chồng bà V là cụ Hoàng Văn T3, chết năm 1998 và cụ Vũ Thị T4, chết năm 2014. Bố mẹ các bà sinh được 5 người con gồm: Ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L, bà Hoàng Thị G, ông Hoàng Đình Đ (chồng bà V), bà Hoàng Thị V1. Bố mẹ các bà không có con nuôi, con riêng nào khác. Khi bố mẹ các bà chết có để lại di sản cho anh em các bà nhưng anh em các bà chưa chia di sản thửa kế. Di sản thừa kế của bố mẹ để lại như ông P, ông L đã khai. Tất cả các thửa đất theo bản đồ 299 đều mang tên cụ Hoàng Văn T3 (bố các bà). Theo bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2020 thì gia đình các bà có ba thửa đất, thửa 248 diện tích 187m² loại đất ở, thửa 246 diện tích 393,4m² loại đất ở, thửa 245 diện tích 130,7m² loại đất ao đều đứng tên ông Hoàng Đình Đ và bà Vũ Thị Hồng V. Việc các thửa đất 248, 245, 246 đứng tên ông Đ và bà V là do anh em trong gia đình lập văn bản ủy quyền cho ông Đ đứng lên làm thủ tục về đất đai của bố mẹ nên cơ quan đo đạc ghi tên người sử dụng đất là vợ chồng ông Đ và bà V. Vợ chồng ông Đ và bà V không trực tiếp quản lý sử dụng các thửa đất 248, 245, 246 chỉ về làm việc với xã khi có yêu cầu liên quan đến các thửa đất. Nguồn gốc hai thửa đất 248 và 246 cụ T3, cụ T4 được thừa hưởng của cụ Hoàng Nhân H1 và cụ Phạm Thị B1. Theo các cụ truyền lại, cụ Hoàng Văn T5 (cụ nội của anh Hoàng Nhân N) có bán cho cụ Hoàng Nhân H1 thửa đất 287 và bán cho cụ Vũ Văn T6 thửa đất 264, diện tích đất còn lại phía trong thuộc thửa đất 288 cụ Truyện giữ lại để ở và sử dụng (hiện tại anh Hoàng Nhân Nghĩa L1 chắt của cụ T5 đang quản lý, sử dụng). Sau khi nhận chuyển nhượng đất của cụ T5, các cụ đã xây dựng, sửa chữa công trình nhiều lần đều quay hướng nhà ra ngõ đi chung hiện nay. Khi bán đất cho cụ H1 và cụ T6, các cụ có thỏa thuận để diện tích đất làm lối đi chung từ đường chính vào phần đất của 03 gia đình (cụ T5, cụ H1 và cụ T6). Sau đó cụ T6 bán lại thửa đất 264 cho cụ H1 thì bố mẹ các bà sử dụng toàn bộ 2 thửa đất khoảng từ năm 1927 đến nay. Trước đây, các cụ chuyển nhượng đất cho nhau thủ tục rất đơn giản, cũng có viết giấy tờ mua bán giữa các gia đình, nhưng đã quá lâu nên bị thất lạc. Khi cụ T5 bán đất cho cụ H1 và cụ T6 thì 3 gia đình sử dụng lối đi chung do các cụ để lại từ trước, ông bà nội, bố mẹ các bà khi còn sống đều sử dụng lối đi này, đến các đời con cháu liên tục sử dụng không có ai tranh chấp với ai. Hiện nay, lối đi chung này chỉ có gia đình các bà và gia đình anh N đang sử dụng. Theo di nguyện của các cụ, năm năm 2006 anh chị em các bà cùng góp công, góp sức xây dựng lại khu thờ tự của gia đình tại thửa 248 còn thửa 246 giữ lại nhà cũ để làm chỗ nghỉ ngơi ngày giỗ tết anh em con cháu đi về. Gia đình các bà đặt vấn đề với anh N cùng đóng góp để tôn tạo lối đi chung cho khang trang, sạch đẹp nhưng anh N không đồng ý dẫn đến tranh chấp mâu thuẫn. Vì vậy, các bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông P, ông L. Do các bà không về nhận được các tài liệu do Toà án tống đạt nên các bà đề nghị Toà án giao các văn bản tố tụng cho ông P hoặc ông L để các ông thông báo cho các bà.
3. Ông Hoàng Xuân N1 trình bày: Theo bản đồ 299 là thửa 288 nay là thửa 247 anh N đang quản lý, sử dụng trước kia là của cụ Hoàng Văn T5 (ông nội ông), sau đó cụ T5 để lại cho cụ Hoàng Văn H2, cụ Vũ Thị T7 (bố mẹ ông) sử dụng, sau đó bố mẹ ông để lại cho anh Hoàng Mạnh N2 (bố anh N) quản lý, sử dụng. Năm 2003 ông N2 (bố anh N) chết thì để lại cho anh N quản lý, sử dụng từ đó đến nay. Lý do ông N2 (bố anh N) quản lý, sử dụng đất ông cha vì ông N2 là con trưởng ở cùng với bố mẹ nên sau khi bố mẹ chết thì ông N2 quản lý sử dụng thửa đất. Khi ông N2 chết thì anh N (cháu đích tôn) quản lý, sử dụng thửa đất diện tích 856,4m², thửa đất này chưa được anh em trong gia đình chia di sản thừa kế. Bố mẹ ông sinh được 5 người con là bà Hoàng Thị T, ông Hoàng Mạnh N2 (bố anh N đã chết), bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Xuân N1, ông Hoàng Quốc B. Vợ và các con ông N2 đúng như anh N trình bày.
Diện tích đất của bố mẹ ông theo bản đồ 299 là thửa số 288 (nay là thửa 247) hiện tại anh N đang quản lý, sử dụng bao gồm cả ngõ đi đang tranh chấp hiện nay thông ra đường giao thông của xóm, không có dấu vạch ngăn cách giữa thổ ở và ngõ, ngõ có chiều rộng khoảng 2m, dài khoảng 12m, tiếp giáp và ngăn cách với hai thửa đất của gia đình ông P và ông L, ngõ đi của ông bà, bố mẹ ông có lịch sử từ trước khi gia đình ông P, ông L đến sinh sống, không phải là ngõ đi chung của hai gia đình như ông P, ông L trình bày. Mấy chục năm qua, ông bà, bố mẹ ông liên tục sử dụng ngõ đi và tôn tạo, kiến thiết cho đến nay, gia đình ông đã đổ bê tông ngõ đi, mọi kinh phí đều do gia đình ông bỏ ra toàn bộ, trong quá trình sửa chữa nâng cấp.
Khi gia đình ông L, ông P xây tường bao, xây cổng và thường xuyên sử dụng ngõ đi lúc đó ông bà nội, bố mẹ ông, anh N2, anh em các ông không có ý kiến gì vì nghĩ tình làng nghĩa xóm nên để cho gia đình ông L, ông P đi nhờ.
Hiện trạng thửa đất gia đình ông L, ông P mua lại của cụ T6 hiện nay có 2 cổng đi. Một cổng chính quay ra đường giao thông thôn, còn 1 cổng phụ quay ra ngõ đi đang tranh chấp, còn thửa đất gia đình ông L, ông P mua lại của cụ T5 chỉ có một cổng đi ra ngõ tranh chấp, còn cổng cũ mở ra đường giao thông thôn thì gia đình ông P, ông L đã xây tường vít lại.
Năm 2006 gia đình ông P, ông L tu sửa nhà và đổ tràn nguyên vật liệu ra ngõ, xây cổng lấn ra diện tích ngõ của ông bà bố mẹ ông khiến cho gia đình ông đi lại khó khăn. Ông đã báo cáo chính quyền về việc gia đình ông P, ông L đổ nguyên vật liệu ra ngõ của gia đình, UBND xã đã lập biên bản và yêu cầu gia đình ông L, ông P phải xây lui cổng vào, đồng thời phải thu dọn vật liệu xây dựng để trả lại mặt bằng ngõ cho gia đình ông, tuy nhiên gia đình ông P, ông L không thực hiện nên buộc ông phải tự vệ sinh, thu dọn vật liệu để lấy ngõ đi (vì lúc đó anh N đi bộ đội không có ở nhà) dẫn đến hai bên gia đình phát sinh mâu thuẫn.
Tại thời điểm năm 2006, ông đã làm đơn xin xác nhận về quyền sử dụng ngõ đi, bà con lối xóm, bao gồm các cụ 50-60 tuổi đảng đã xác nhận, đồng thời UBND xã có văn văn bản trả lời ngõ đi hiện nay là ngõ đi riêng thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Hoàng Văn H2 (bố mẹ ông), không phải ngõ đi chung giữa hai nhà.
Năm 2023, anh N có ý định cải tạo nhà cửa ngõ đi nên đã chuyển chở gạch vật liệu xây dựng về ngõ thì gia đình ông P, ông L gửi đơn lên UBND xã H để tranh chấp ngõ đi với anh N. UBND xã H gọi hai bên gia đình lên hòa giải 02 lần nhưng không thành, sau đó ông Hoàng Đình Đ (em trai ông P, ông L) có sang nói chuyện với ông và anh N xin được đổi ngõ. Vì tình cảm hai bên gia đình ông và anh N nhất trí đổi ngõ để thuận tiện việc sử dụng ngõ đi cho hai bên gia đình nhưng sau đó gia đình ông L, ông P thay đổi và không đổi ngõ cho anh N nữa. Nay bên gia đình ông P, ông L thiện chí đổi ngõ theo phương án gia đình ông P, ông L cắt cho N diện tích ngõ đi chiều rộng là 2,3m và chiều dài đủ đi ra đường giao thông phía đông, còn cụ thể diện tích đất bao nhiêu ông và anh N cũng đồng ý.
4. Tại đơn trình bày bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Quốc B2 trình bày: Các ông bà là con đẻ của cụ Hoàng Văn H2, chết năm 1995 và cụ Vũ Thị T7, chết năm 2017, cụ H2 và cụ Thực S được 5 người con gồm: Bà Hoàng Thị T, ông Hoàng Mạnh N2 (bố anh N), bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Xuân N1 và ông Hoàng Quốc B. Khi còn sống cụ H2 và cụ T7 có thửa đất 288 (theo bản đồ 299) nay là thửa đất 247 diện tích 856.4m² và một số công trình xây dựng trên đất. Nguồn gốc thửa đất do ông bà nội các ông, bà để lại cho cụ H2, cụ T7 sử dụng. Các anh chị em trong gia đình đều đi lập nghiệp ở riêng chỉ có ông Hoàng Mạnh N2 (bố của anh N) và ông Hoàng Xuân N1 quản lý sử dụng thửa đất của bố mẹ. Ông Hoàng Mạnh N2 chết năm 2003 nên hiện nay anh Hoàng Nhân N và ông Hoàng Xuân N1 đang quản lý sử dụng. Thửa đất 288 (247) hiện nay anh em chưa phân chia phần thừa kế di sản mà để cho anh N và ông N1 quản lý sử dụng, trông coi thờ cúng tổ tiên. Thửa đất của bố mẹ các ông, bà để lại có phần ngõ đi đang tranh chấp mà ngõ đi này có từ rất lâu đời và thuộc phần đất của gia đình các ông bà thể hiện trên bản đồ 299, không phải là ngõ đi chung của hai gia đình.
Nay ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L khởi kiện đề nghị Toà án xác định ngõ đi của gia đình các ông bà đang sử dụng là ngõ đi chung là không đúng thực tế, vì vậy các ông bà nhất trí với ý kiến, quan điểm trình bày của ông N1, anh N về nguồn gốc ngõ đi đang tranh chấp và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, ông L. Trong trường hợp ông P, ông L muốn sử dụng phần ngõ đi này thì phải đổi diện tích ngõ đi khác cho gia đình theo yêu cầu của ông N1 và anh N, nếu gia đình ông P, ông L không đồng ý đổi ngõ thì đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật bảo đảm quyền lợi cho gia đình các ông bà.
5. Tại đơn trình bày và đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt chị Hoàng Thúy A và chị Hoàng Ngọc T2 trình bày: Các chị là con đẻ của ông Hoàng Mạnh N2 và là cháu nội của cụ Hoàng Văn H2 và cụ Vũ Thị T7. Về việc tranh chấp ngõ đi, các chị nhất trí với ý kiến trình bày của bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Quốc B. Do các chị đang sinh sống ở xa đi về tham gia tố tụng khó khăn, vì vậy đề nghị Toà án cho các chị được vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết và phiên toà xét xử vụ án.
6. Bà Hoàng Thị Ngọc T1 trình bày: Bà là vợ của ông Hoàng Mạnh N2 con cụ Hoàng Văn H2, ông bà đã qua đời để lại nơi ăn ở cho các con nhưng ông N2 đã mất từ lâu, các con còn nhỏ bà phải ra chỗ ở khác để sinh sống làm ăn, còn anh Hoàng Nhân N ở lại nhà đất của các cụ, vì vậy bà nhường quyền cho anh N tự quyết định mọi vấn đề trên thửa đất đang ở. Đề nghị Toà xem xét giải giải quyết đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho anh N.
7. Chị Hoàng Thị Ngọc D2 không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến của những người làm chứng - bà Phạm Thị L3, ông Chu Mạnh C1, ông Nguyễn Tiến L4 nguyên là Chủ tịch UBND xã Đ qua các thời kỳ, bà Phạm Thị T9 nguyên uỷ viên UBND xã Đ, ông Chu Văn T10 nguyên Chủ nhiệm HTX Đ1, ông Đặng Quang S1 nguyên trưởng thôn Đ trình bày: Trước kia cụ Hoàng Văn T3 (bố ông P, ông L) làm Kế toán trưởng Hợp tác xã Đ1 nên trong quan hệ công tác, các ông bà thường đến nhà ông T3 giải quyết một số công việc chung, khi đến nhà ông T3 đều đi bằng ngõ đi hiện nay đang tranh chấp. Quá trình sử dụng ngõ đi chung các ông bà không thấy gia đình cụ T3, cụ H2 không có mâu thuẫn tranh chấp gì. Các ông bà chỉ biết trước đây là ngõ đi chung của gia đình cụ H2, cụ T3 còn nguồn gốc ngõ đi đang tranh chấp các ông bà không biết thuộc quyền sử dụng của gia đình cụ H2 hay gia đình cụ T3. Đề nghị Toà án hoà giải hai bên gia đình để thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là tốt nhất, nếu hai bên gia đình không hoà giải, thoả thuận được đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2024 thể hiện: Lối đi đang tranh chấp giữa các thửa đất 246, 247, 248, theo bản đồ đo đạc năm 2020 có diện tích 25,3m² có tứ cận: Phía đông giáp thửa đất 246; Phía tây giáp thửa đất 248; Phía nam giáp sân nhà anh Hoàng Nhân N; Phía bắc giáp đường trục thôn.
Hiện trạng công trình trên thửa đất 248 có một ngôi nhà thờ quay hướng Đông ra lối đi đang tranh chấp, phía trước nhà thờ là sân gạch, tường dậu xây trạm trổ và gắn ngói, cổng xây có hai trụ cổng, lợp ngói mở lối đi ra lối đi đang tranh chấp.
Hiện trạng thửa đất 246, trên đất có căn nhà gồm hai phần: Phần thứ nhất là nhà ở, phần thứ hai là bếp và công trình phụ, cổng mở ra lối đi đang tranh chấp, hướng đông có cổng đi ra đường trục thôn. Thửa đất 245 được bao bọc 3 mặt của thửa đất 246, lối đi trong nội bộ thửa đất 246, phần tường dậu bao bọc thửa đất xây gạch đỏ 1 hàng cao khoảng 2m trên có hàng rào inox cao khoảng 30cm, phía tây có 1 đoạn tường bao xây gạch đỏ cao khoảng 2m cắm mảnh thuỷ tinh, phía đông có tường bao.
Hiện trạng thửa đất 247 trên đất có hai căn hộ: Căn hộ phía tây do anh Hoàng Nhân N đang sinh sống, nhà 1 tầng. Căn hộ phía đông gồm nhà 2 tầng do gia đình ông N1 đang sử dụng, phía trước nhà (phía nam) là vườn và ao. Ngoài nhà chính của gia đình ông N1 còn có các công trình phụ trợ khác.
Trên diện tích lối đi đang tranh chấp gia đình anh N đặt các bị gạch từ cổng nhà anh N ra đến đường trục thôn, giáp đường trục thôn anh N làm khung thép ống phi 60, thanh ngang nối giữa 2 cột là sắt hộp 2x4. Lối đi đang tranh chấp gia đình anh N đang sử dụng còn gia đình ông N1 đi ra đường trục thôn bằng cổng phía đông.
* Biên bản định giá tài sản ngày 17/7/2024 thể hiện:
+ Trị giá ngõ bê tông gồm:
- - Đắp cát móng công trình bằng thủ công: 0,15m x 25,3m² x 409.586 đồng/m³ x 35% = 5.440.320 đồng.
- - Bê tông nền mác 200: 0,15 x 25,3m² x 1.760.317 đồng/m³ x 35% = 2.338.141 đồng.
+ Trị giá đất: Vị trí đất giáp đường trục thôn giá 600.000 đồng/1m² x hệ số điều chỉnh 1,6 lần (600.000 đồng x 1,6 lần = 960.000 đồng/1m²), 25,3m² x 960.000 đồng/m² = 24.288.000 đồng.
Tổng trị giá đất + tài sản trên đất là 32.066.461 đồng.
Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự; Điều 100, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn P và ông Hoàng Văn L.
- Xác định diện tích đất 25,3m² tại thửa số 247, tờ bản đồ số 31 (đo đạc năm 2020) ở thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình là lối đi chung của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L và gia đình anh Hoàng Nhân N. Lối đi chung có tứ cận:
- - Phía Đông giáp thửa đất 246 dài 12,37m.
- - Phía Tây giáp thửa đất 248 dài 12,45m.
- - Phía Nam giáp thửa đất 247 dài 1,93m.
- - Phía Bắc giáp đường giao thông dài 2,16m.
(Có sơ đồ đất kèm theo)
- Chấp nhận việc ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L hỗ trợ gia đình bị đơn (gồm những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hoàng Văn H2 và cụ Vũ Thị T7: Bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Xuân N1, ông Hoàng Quốc B, bà Hoàng Thị Ngọc T1, anh Hoàng Nhân N, chị Hoàng Thúy A, chị Hoàng Thị Ngọc D2, chị Hoàng Ngọc T2) số tiền 120.000.000 đồng để tôn tạo ngõ đi chung.
- Buộc anh Hoàng Nhân N phải tháo dỡ các ống bi gạch, các phần xây dựng và khung thép (gồm 02 cột và thanh ngang) làm trên lối đi chung để trả lại mặt bằng lối đi chung, đồng thời chấm dứt các hành vi cản trở lối đi chung của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 18/9/2024, anh Hoàng Nhân N và ông Hoàng Xuân N1 kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm với lý do, theo bản đồ 299 thửa đất 288 (nay là thửa 247) đứng tên cụ Hoàng Văn H2 (bố ông N1 và ông nội anh N) có ngõ đi liền thửa với thửa đất 247 và theo hồ sơ quản lý đất đai của UBND xã H và được những người cao tuổi trong thôn xác định ngõ đi thuộc quyền quản lý riêng của gia đình anh N, ông N1. Vì vậy gia đình anh N, ông N1 không đồng ý nhận số tiền 120.000.000 đồng hỗ trợ của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét công nhận ngõ đi đang tranh chấp là ngõ đi riêng của gia đình anh N, ông N1.
- Ngày 18/9/2025 ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, anh Hoàng Nhân N và ông Hoàng Xuân N1 không chấp hành bản án mà có hành vi đóng cọc, dựng tấm tôn, xây gắn kết các bị gạch lại với nhau, chắn cổng ra vào làm cản trở việc đi lại của gia đình các ông, vì vậy các ông không đồng ý hỗ trợ cho gia đình anh N, ông N1 số tiền 120.000.000 đồng theo quyết dịnh của bản án sơ thẩm.
- Tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS ngày 25/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng kháng nghị bản án số 16/0204/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng với nội dung:
+ Về đánh giá chứng cứ: Theo bản đồ 299 diện tích đất ngõ đi đang tranh chấp nằm trong thửa đất số 288, tờ bản đồ số 2, nay thuộc diện tích thửa 247, tờ bản đồ số 31 của anh Hoàng Nhân N đang sử dụng được UBND xã H xác nhận ngày 05/6/2024 và tại Công văn số 25 ngày 27/12/2021 của UBND xã H trả lời đơn kiến nghị của ông Hoàng Xuân N1 xác định ngõ đi đang tranh chấp thuộc diện tích sử dụng riêng của gia đình ông N1 (nay diện tích đất do anh N sử dụng). Gia đình ông P, ông L chỉ mở cổng trên hai thửa đất để đi ra ngõ chứ không tham gia xây dựng, tôn tạo ngõ đi. Mặt khác, ông L, ông P không cung cấp được chứng cứ xác định ngõ đi chung và UBND xã cung cấp hai bên gia đình tranh chấp ngõ đi từ năm 2006 nên việc cấp sơ thẩm nhận định ngõ đi được sử dụng ổn định lâu dài là không đúng thực tế.
- Vi phạm nguyên tắc định đoạt của đương sự: Tại phiên toà, anh N không đồng ý xác định ngõ đi đang tranh chấp là ngõ đi chung và không đồng ý nhận số tiền hỗ trợ của gia đình ông P, ông L để tôn tạo ngõ đi nhưng bản án sơ thẩm vẫn quyết định việc ông P, ông L hỗ trợ cho anh N 120.000.000 đồng là vi phạm quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Ý kiến của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:
1. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS ngày 25/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
2. Ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L trình bày: Các ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định lối đi đang tranh chấp đã được gia đình cụ T5, cụ H1 sử dụng ổn định từ rất lâu đời hàng 100 năm nay không có tranh chấp. Việc sử dụng lối đi chung của hai gia đình cụ T5, cụ H1 có những người làm chứng sống lâu năm xác nhận, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung xác định ngõ đi đang tranh chấp là ngõ đi chung.
Tại phiên toà sơ thẩm để giữ tình cảm hài hoà giữa hai gia đình, các ông đồng ý hỗ trợ cho gia đình anh N, ông N1 số tiền 120.000.000 đồng, tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm, anh N có hành vi đóng cọc, dựng tấm tôn, xây gắn kết các bị gạch lại với nhau, chắn cổng ra vào làm cản trở việc đi lại của gia đình các ông trong việc sử dụng ngõ đi chung, vì vậy các ông không đồng ý hỗ trợ cho gia đình anh N, ông N1 số tiền 120.000.000 đồng.
3. Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị V1 đồng ý với ý kiến của ông P, ông L và không trình bày gì thêm.
4. Anh Hoàng Nhân N và ông Hoàng Xuân N1 trình bày: Trên bản đồ 299 thể hiện ngõ đi này là ngõ đi của gia đình cụ Hoàng Văn T5 (ông nội của anh N). Như vậy, Nhà nước đã công nhận là ngõ đi riêng của gia đình, không phải là ngõ đi chung. Trước kia hai bên gia đình còn hoà thuận, vui vẻ gia đình ông N1, anh N đồng ý cho gia đình ông P, ông L đi chung ngõ. Nay hai bên gia đình mâu thuẫn căng thẳng, anh N, ông N1 không đồng ý cho gia đình ông P, ông L đi chung ngõ. Trường hợp gia đình ông P, ông L muốn sử dụng ngõ đi đang tranh chấp thì đổi đất cho gia đình anh N, ông N1 sang lối đi khác và anh N, ông N1 không đồng ý nhận số tiền gia đình ông P, ông L hỗ trợ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N, ông Nghi X bác đơn khởi kiện của ông P, ông L.
4. Ông Đỗ Khắc D và bà Trần Thị C trình bày: Ngõ đi chung có nguồn gốc từ rất lâu đời tồn tại gần trăm năm nay và gia đình ông P, ông L đã sử dụng ngõ đi đến nay là đời thứ 3 từ khi cụ T5 còn sống luôn hoà thuận, không xảy ra tranh chấp gì. Ngoài ra việc xác định ngõ đi chung còn được thể hiện qua lời khai của các cụ cao niên do Toà án thu thập và hiện trạng công trình xây dựng trên đất của gia đình ông P, ông L đều mở lối ra ngõ đi chung. Như vậy, có căn cứ xác định ngõ đi chung theo định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xử bác kháng cáo của anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N1, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về nội dung xác định ngõ đi tranh chấp là ngõ đi chung.
Tại phiên toà sơ thẩm, để hài hoà giưa hai gia đình nên ông P, ông L đồng ý hỗ trợ cho gia đình anh N 120.000.000 đồng, tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm anh N tiếp tục gây khó khăn cản trở việc đi lại của gia đình ông P ông L, vì vậy gia đình ông P, ông L không đồng ý hỗ trợ tiền cho gia đình anh N nữa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông P, ông L.
* Tại phiên toà, đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 277, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 245, 254 Bộ luật Dân sự.
- - Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng và kháng cáo của ông Hoàng Xuân N1, anh Hoàng Nhân N.
- - Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L.
- - Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do ngõ đi đang tranh chấp là ngõ đi thuộc diện tích quản lý, sử dụng thuộc thửa đất của gia đình bị đơn.
- - Anh Hoàng Nhân N và ông Hoàng Xuân N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn do nguyên đơn là người cao tuổi.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thời hạn kháng cáo kháng nghị: Đơn kháng cáo của anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N1, ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng gửi trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy đơn kháng cáo của anh N, ông N1, ông P, ông L, kháng nghị của Viện kiểm sát được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Hoàng Thị G, bà Hoàng Thị V1, bà Hoàng Thị T, bà Vũ Thị Hồng V, bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Quốc B, chị Hoàng Thúy A, bà Hoàng Thị Ngọc T1, chị Hoàng Ngọc T2, chị Hoàng Thị Ngọc D2, ông Chu Mạnh C1, bà Phạm Thị T9, ông Nguyễn Tiến L4, ông Đặng Quang S1, bà Phạm Thị L3 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
* Về nội dung: Xét kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N1, kháng cáo của ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L.
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định, các thửa đất 264, 287, 288 (bản đồ 299) nay là thửa 246, 247, 248 (đo đạc năm 2020), trước kia là của cụ Hoàng Văn T5 (cụ nội anh N). Sau đó, cụ T5 bán lại một phần đất ở cho gia đình cụ Hoàng Nhân H1 (ông nội ông P, ông L) phía trước nay là thửa đất 248 và bán cho cụ Vũ Văn Tó một phần đất ở nay là thửa đất 246, còn cụ T5 để lại một phần đất phía trong để sử dụng nay là thửa đất 247. Giữa 3 thửa đất 246, 247, 248 có lối đi hiện nay đang tranh chấp.
[2] Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng và anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N3 đều căn cứ Bản đồ 299 UBND xã H cung cấp và Công văn trả lời số 25/UBND-TP ngày 27/12/2021 của UBND xã H để xác định ngõ đi thuộc quyền sử dụng của gia đình anh N, ông N1. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã thu thập tài liệu bản đồ 299 khu vực xã Đ (cũ) nay là xã H tại Văn phòng Đ2 - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T và Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Đ đều xác định đơn vị không có bản đồ 299/TTg xã Đ (xã H mới), huyện Đ liên quan đến các thửa đất có ngõ đi đang tranh chấp để đối chiếu tính hợp pháp của tài liệu bản đồ 299 UBND xã H cung cấp trong hồ sơ. Mặt khác, Văn phòng Đ2 xác định theo tài liệu đo đạc bản đồ năm 2020 xã H đang lưu trữ tại văn Phòng Đ2 thì phần diện tích theo Toà án gọi là ngõ đi đang tranh chấp (được tạm tính vào thửa đất 247) cho gia đinh anh N, ông N1 chứ không phải thuộc quyền sử dụng của gia đình anh N, ông N1 như Công văn trả lời của UBND xã H. Do vậy, Viện kiểm sát và anh N, ông N1 chỉ căn cứ duy nhất vào tài liệu bản đồ 299 UBND xã H cung cấp để đề nghị Hội đồng xét xử, xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên mà không xem xét đến các tài liệu chứng khác trong hồ sơ là thiếu căn cứ vững chắc.
[3] Theo nguyên đơn khai, gia đình nguyên đơn sử dụng thửa đất 248 từ năm 1927, sử dụng thửa đất 246 từ năm 1960 và ngõ đi được hình thành từ khi cụ T5 bán đất cho cụ H1 và cụ T6. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với lời khai của những người cao niên từng làm lãnh đạo UBND xã Đ cũ xác nhận và phù hợp với hiện trạng sử dụng đất gia đình ông P, ông L xây từ đường tại thửa 248, xây nhà tại thửa 246 đều mở lối đi ra ngõ đang tranh chấp và theo giấy khai sinh thể hiện ông P sinh năm 1953, tính đến thời điểm phát sinh mâu thuẫn năm 2006 hai gia đình sử dụng lối đi chung thời gian là 53 năm qua nhiều đời con cháu (gia đình cụ T5 4 đời), (gia đình cụ H1 3 đời) mà Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản liền kề “Ranh giới cũng có thể được xác định bởi tập quán hoặc theo ranh giới đã được tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp” nên án sơ thẩm xác định hai gia đình sử dụng lối đi chung ổn định lâu dài là có căn cứ.
Mặt khác, hiện tại gia đình ông P, ông L không có người ở thường xuyên trên hai thửa đất 246, 248 mà chỉ sử dụng hai thửa đất khoảng 4 - 5 ngày trong năm vào ngày giỗ, ngày tết, ngày thanh minh, ngày rằm tháng 7. Khi sắp lễ đều được thực hiện ở thửa đất 246 và mang sang từ đường ở thửa đất 248 để thắp hương nên gia đình ông P, ông L sử dụng ngõ đi không nhiều, không làm ảnh hưởng đến gia đình ông N1, anh N và chủ sử dụng đất khác, đồng thời gia đình anh N không thể mở lối đi nào khác, không thể xây dựng bất cứ công trình gì trên diện tích đất lối đi được, vi vậy việc sử dụng ngõ đi đang tranh chấp của gia đình ông P, ông L phù hợp với quy định của pháp luật về quyền được sử dụng lối đi có sẵn “Người chủ sử dụng đất liền kề với lối đi có sẵn được sử dụng đất làm lối đi ra đường công cộng và việc sử dụng không được làm ảnh hưởng đến chủ sử dụng khác”. Do đó, án sơ thẩm xác định lối đi đang tranh chấp là lối đi chung của gia đình nguyên đơn và gia đình bị đơn là đúng pháp luật. Vì vậy, đơn kháng cáo của anh N, ông N1 và kháng nghị của Viện kiểm sát về nội dung này không có sở chấp nhận.
[4] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn không đồng ý xác định lối đi đang tranh chấp là lối đi chung và không đồng ý nhận số tiền hỗ trợ tôn tạo ngõ đi, tuy nhiên án sơ thẩm vẫn chấp nhận việc hỗ trợ của nguyên đơn là vi phạm sự định đoạt của đương sự như nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát là đúng pháp luật. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn kháng cáo không chấp nhận việc hỗ trợ tiền cho gia đình bị đơn. Vì vậy cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của nguyên đơn về nội dung trên, cần sửa án sơ thẩm, không chấp nhận việc gia đình nguyên đơn hỗ trợ cho gia đình bị đơn số tiền 120.000.000 đồng để tôn tạo lối đi chung là phù hợp pháp luật.
[5] Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L và một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng về việc không buộc nguyên đơn hỗ trợ tiền cho bị đơn. Không chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N1 và kháng nghị của Viện kiệm sát về việc bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên anh N, ông N1, ông P, ông L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 298, khoản 1, 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự; Điều 100, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai.
- Không chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N1. Chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L và một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, sửa bản dân sự án số 16/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn P và ông Hoàng Văn L.
- Xác định diện tích đất 25,3m² tại thửa số 247, tờ bản đồ số 31 (đo đạc năm 2020) ở thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình là lối đi chung của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L và gia đình anh Hoàng Nhân N. Lối đi chung có tứ cận:
- - Phía Đông giáp thửa đất 246 dài 12,37m.
- - Phía Tây giáp thửa đất 248 dài 12,45m.
- - Phía Nam giáp thửa đất 247 dài 1,93m.
- - Phía Bắc giáp đường giao thông dài 2,16m.
(Có sơ đồ đất kèm theo)
- Buộc anh Hoàng Nhân N phải tháo dỡ các ống bi gạch, các phần xây dựng và khung thép (gồm 02 cột và thanh ngang) làm trên lối đi chung để trả lại mặt bằng lối đi chung, đồng thời chấm dứt các hành vi cản trở lối đi chung của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Anh Hoàng Nhân N, ông Hoàng Xuân N1, ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Thẩm phán |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Minh Huệ | Chu Tuấn Vương |
| Nguyễn Thị Hân |
18
* Nơi nhận:
- - TAND - VKSND tỉnh Thái Bình;
- - Chi cục THADS huyện Đông Hưng;
- - UBND xã Hà Giang, h. Đông Hưng;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ;
- - Lưu HC-TP.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |
| THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ | |
| Chu Tuấn Vương |
19
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Hồi 10 giờ 30 phút, gày 10/9/2024; Tại phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương T11.
- - Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Huy Khoa.
- - Ông Nguyễn Hữu Hiển.
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 09/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp lối đi chung” giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- - Ông Hoàng Văn P - Sinh năm 1953.
- Địa chỉ: Số nhà A, ngách A, Tổ A, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
- - Ông Hoàng Văn L - Sinh năm 1956.
- Địa chỉ: Nhà số E - Lô D, khu đô thị E ha, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Văn P và ông Hoàng Văn L: Ông Đỗ Khắc D - Công ty L5.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hoàng Văn P và Hoàng Văn L: Luật sư Trần Thị C - Công ty L5.
Địa chỉ: Tầng F, số A T, tổ A, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Anh Hoàng Nhân N - Sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị G - Sinh năm 1959.
- Địa chỉ: Số nhà F, đường A, khu dân cư M, Kp3, P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Hoàng Đình Đ - SN 1963 và bà Vũ Thị Hồng V - SN 1969.
- Địa chỉ: N Lô B, I B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng.
- Bà Hoàng Thị V1 - Sinh năm 1966.
- Địa chỉ: Nhà B Lô D khu 5,21 ha, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
- Bà Hoàng Thị T - Sinh năm 1959.
- Địa chỉ: Số nhà H, ngõ C, tổ C, L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- Bà Hoàng Thị D1 - Sinh năm 1966.
- Địa chỉ: Số nhà A, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Hoàng Xuân N1 - Sinh năm 1969.
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Ông Hoàng Quốc B - Sinh năm 1974.
- Địa chỉ: Số nhà E, tổ C, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Hoàng Thúy A - Sinh năm 1990.
- Địa chỉ: Số E, đường V, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Bà Hoàng Thị Ngọc T1 - Sinh năm 1965.
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Chị Hoàng Thị Ngọc D2 - Sinh năm 1994.
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Chị Hoàng Ngọc T2 - Sinh năm 1998.
- Địa chỉ: Số nhà C, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Đại diện theo uỷ quyền của bà T1: Anh Hoàng Nhân N - Sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
* Người làm chứng:
- Ông Chu Mạnh C1 - Sinh năm 1943.
- Bà Phạm Thị T9 - Sinh năm 1942.
- Ông Nguyễn Tiến L4 - Sinh năm 1954.
- Ông Đặng Quang S1 - Sinh năm 1955.
- Bà Phạm Thị L3 - Sinh năm 1940.
Đều trú tại địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Đều trú tại địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
A. Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự; Điều 100, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai.
3/3 Nhất trí
B. Quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn P và ông Hoàng Văn L.
- Xác định diện tích đất 25,3m² tại thửa số 247, tờ bản đồ số 31 (đo đạc năm 2020) ở thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình là lối đi chung của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L và gia đình anh Hoàng Nhân N. Lối đi chung có tứ cận:
- - Phía Đông giáp thửa đất 246 dài 12,37m.
- - Phía Tây giáp thửa đất 248 dài 12,45m.
- - Phía Nam giáp thửa đất 247 dài 1,93m.
- - Phía Bắc giáp đường giao thông dài 2,16m.
(Có sơ đồ đất kèm theo)
- Chấp nhận việc ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L hỗ trợ gia đình bị đơn (gồm những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hoàng Văn H2 và cụ Vũ Thị T7: Bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị D1, ông Hoàng Xuân N1, ông Hoàng Quốc B, bà Hoàng Thị Ngọc T1, anh Hoàng Nhân N, chị Hoàng Thúy A, chị Hoàng Thị Ngọc D2, chị Hoàng Ngọc T2) số tiền 120.000.000 đồng để tôn tạo ngõ đi chung.
- Buộc anh Hoàng Nhân N phải tháo dỡ các ống bi gạch, các phần xây dựng và khung thép (gồm 02 cột và thanh ngang) làm trên lối đi chung để trả lại mặt bằng lối đi chung, đồng thời chấm dứt các hành vi cản trở lối đi chung của gia đình ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L.
- Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Anh Hoàng Nhân N4 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Áp dụng Điều 157 và Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Hoàng Văn P, ông Hoàng Văn L phải chịu 6.000.000 đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (ông P, ông L đã nộp đủ).
3/3 Nhất trí
C. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
3/3 Nhất trí
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3/3 Nhất trí
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Phương T11 |
Bản án số 12/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 12/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi chung
