|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-PT |
Ngày: 23-5-2024.
V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Ông Thái Văn Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định:
Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 11/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con".
Do bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:15/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: Số E thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định
Bị đơn: Anh Lê Thành C, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Người kháng cáo: Bị đơn anh Lê Thành C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2023 các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Chị và anh Lê Thành C quen biết qua mai mối, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N năm 2021. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng tại xã N, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu đến khi chị mang thai được 6 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân từ việc chị về ở nhà cha mẹ ruột để chờ sinh con và khi về lại nhà chồng chơi thì chồng và cha mẹ chồng cấm không cho chị về vì sợ sẽ xui, làm ăn không được. Sau khi chị sinh con được 6 tháng về lại nhà chồng sống thì vợ chồng lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, chồng và cha mẹ chồng nói chị ăn bám không cho chị ở nhà chăm con mà bắt chị đi làm. Khi chị đi làm thì gia đình chồng vẫn tiếp tục kiếm chuyện nói chị đi làm về không phụ giúp gia đình làm công việc nhà, chồng đánh đập, chửi mắng và ngăn cản gia đình chị đến thăm con, thăm cháu, không cho chị nghe điện thoại từ cha mẹ. Đến ngày 09/10/2023 chị và con bị đau mắt đỏ nhưng chồng và gia đình chồng không quan tâm; khi cha ruột chị đến xin gia đình chồng dẫn mẹ con chị về nhưng cha mẹ chồng không đồng ý cho chị dẫn theo con nên chị đi một mình. Ba ngày sau hết bệnh, chị về lại nhà chồng thì cha mẹ chồng đuổi, ném đồ ra ngoài đường, không cho chị vào nhà nên chị về nhà cha mẹ đẻ sống. Sau đó, chị nhiều lần về thăm con nhưng nhà cha mẹ chồng đóng cửa không chị cho vào. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến nhau, anh C chặn số điện thoại của chị không cho liên lạc để hỏi thăm con. Nay tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu ly hôn anh Lê Thành C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/8/2022 hiện đang ở với anh C, ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 15/12/2023 các lời lời khai tiếp theo và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Thành C trình bày: Thống nhất về thời gian cưới, chung sống và đăng ký kết hôn như chị D đã trình bày. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với cha mẹ anh tại xã N. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cách ăn ở của vợ không phù hợp với gia đình anh nên xảy ra mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu, anh là người đứng giữa hòa giải nhưng không dung hòa được dẫn đến vợ chồng to tiếng cãi nhau, chị D hỗn hào với cha mẹ chồng nên anh có to tiếng với chị D chứ không có đánh chị D. Sáng ngày 09/10/2023 chị D nói anh chở đi bệnh viện khám bệnh đau mắt đỏ, anh nói để mua thuốc về uống chứ không cần đi bệnh viện, sau đó anh đi làm thì chị D gọi cho cha ruột đến chở đi khám bệnh, lúc đó cha vợ có xin chở cháu theo nhưng mẹ của anh không đồng ý vì cháu đã hết đau mắt đỏ. Sau đó chị D có về nhà thăm con nhưng cha mẹ anh không cho chị D vô nhà, chị D mang theo quần áo đi từ đó cho đến nay không về nhà anh nữa. Trong thời gian này vợ chồng cũng như hai bên gia đình không gặp nhau cũng không có liên lạc với nhau để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Nay anh vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn, nếu chị D kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/8/2022, hiện anh đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Lê Thành C.
- Trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn:
- Buộc anh Lê Thành C có trách nhiệm giao con chung Lê Nguyễn Phúc H sinh ngày 01/8/2022 cho chị Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi người con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mỹ D không yêu cầu giải quyết.
Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Lê Thành C không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/02/2024, bị đơn anh Lê Thành C kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử giao con chung tên Lê Nguyễn Phúc H sinh ngày 01/8/2022 cho anh tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ D cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn anh Lê Thàng C giữ nguyên nội dung kháng cáo, trình bày: Từ khi chị D về ở nhà cha mẹ ruột, anh trực tiếp nuôi dưỡng con Lê Nguyễn Phúc H. Hiện tại, cháu H đã quen với môi trường sống, sinh hoạt; anh làm Công nhân có thu nhập ổn định, ngoài ra còn có ông bà nội chăm sóc tốt. Chị D ít quan tâm, lo lắng nên không về thăm con, gia đình anh không ngăn cản như chị D trình bày. Cho nên, yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con Lê Nguyễn Phúc H, không yêu cầu chị D cấp dưỡng.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:
Hiện tại con Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/8/2022 rất cần sự trông nom, chăm sóc của người mẹ, việc con đang ở với anh C là do anh C và gia đình anh C giữ, không cho chị đưa con về chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay, anh C làm Công nhân ở P, không có thời gian chăm sóc con. Còn chị có thời gian chăm sóc con, có thu nhập ổn định, nên không đồng ý giao con Lê Nguyễn Phúc H cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Hiện tại, cháu Lê Nguyễn Phúc H chưa được 02 tuổi rất cần sự chăm sóc tỷ mỉ của người mẹ, nên đề nghị HĐXX giao cháu cho chị Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Thành C, giữ nguyên bản sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn anh Lê Thành C trong hạn luật định, hình thức và nội dung đơn đúng quy định, anh C đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn anh Lê Thành C yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Nguyễn Phúc H sinh ngày 01/8/2022, không yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị D, anh C có nơi ở, công việc làm ổn định và đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Lê Nguyễn Phúc H là chính đáng. Tuy nhiên, việc giao con chung cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng phải xem xét toàn diện để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Hiện tại, cháu Lê Nguyễn Phúc H chưa được 02 tuổi, còn quá nhỏ nên rất cần sự chăm sóc ân cần, tỉ mỉ của người mẹ. Tại cấp phúc thẩm chị Dung được trực tiếp nuôi con, anh C cũng thừa nhận làm công nhân nên ít có thời gian gần gũi chăm sóc con. Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm giao con Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/8/2022 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con được quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Vì vậy, HĐXX phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo yêu cầu trực tiếp nuôi con của anh Lê Thành C.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên anh Lê Thành C phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Phát biểu của đại diện VKSND tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Lê Thành C, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 45/2024/HNGĐ-ST ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Về quan hệ con chung, nuôi con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày 01/8/2022 cho chị Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi người con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Lê Thành C phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh C đã nộp theo biên lai số: 0005271 ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mỹ D không yêu cầu giải quyết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiệp |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
