Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HSST

Ngày: 30/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Phượng – Cán bộ.

2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc – Giáo viên.

Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Lan Phương – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 11/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Vi Xuân T, sinh ngày 22/6/2007;

HKTT: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Bố đẻ Vi Văn K, sinh năm 1983 và mẹ đẻ Lò Thị L, sinh năm 1983; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B – Có mặt tại phiên toà.

2. Bùi Văn L1, sinh ngày 03/07/2006;

HKTT: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố đẻ Bùi Văn T1, sinh năm 1980 và mẹ đẻ Hà Thị H, sinh năm 1985; Gia đình có 03 chị, em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B – Có mặt tại phiên toà.

3. Lê Sỹ T2, sinh ngày 27/8/2006;

HKTT: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Bố đẻ Lê Sỹ C (đã chết) và mẹ đẻ Lô Thị C1, sinh năm 1987; Gia đình có 01 con; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B – Có mặt tại phiên toà.

4. Lô Anh Đ, sinh ngày 04/7/2006;

HKTT: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Bố đẻ Lô Văn T3 và mẹ đẻ Hà Thị D, sinh năm 1987; Gia đình có 01 con; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B – Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Nguyễn Quang H1, sinh ngày 25/12/2007; HKTT: Tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt)

- Người đại diện theo pháp luật cho bị hại: Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1976; HKTT: Tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt)

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Vi Xuân T: Ông Vi Văn K, sinh năm 1983 (là bố đẻ bị cáo); HKTT: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Vi Xuân T: Ông Trần Văn T5 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt)

- Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Văn L1, Lê Sỹ T2 và Lô Anh Đ: Ông Nguyễn Văn H2 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Duy K1, sinh năm 1988; Nơi ở hiện tại: Khu Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

2. Anh La Ngô Đức T6, sinh năm 2006; HKTT: Thôn D, Đạo V, Y, Tuyên Quang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2024, Vi Xuân T, Bùi Văn L1 và Lê Sỹ T2 đến thuê trọ tại khu phố D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để tìm việc làm. Trong thời gian tìm việc, T quen biết với anh Nguyễn Quang H1 cũng đang thuê trọ ở cùng khu phố nên T biết anh H1 có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, BKS 22AA-148.92. Do

chưa tìm được việc làm và không có thu nhập T7 đã nảy sinh ý định cướp xe mô tô của anh H1 để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Đến tối ngày 11/6/2024, Lô Anh Đ đến phòng trọ của T7 chơi và ở cùng thì T7 bảo với Đ, L1 và T2 là rủ anh H1 đi chơi qua khu vực đường L - G thuộc phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để Đ, L1, T2 chặn đường cướp xe, các đối tượng đều đồng ý.

Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, T7 nhận được tin nhắn của anh H1 rủ ra hồ điều hòa khu D, phường P chơi, T7 đồng ý. Lúc này, T7 và Đ đang ở phòng trọ nên T7 bảo Đ đi bộ đến khu vực đường gần phòng trọ cũ của T7 để tìm L1 và T2, đồng thời T7 sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng nhắn tin qua ứng dụng messenger cho L1 (L1 và T2 đang ở quán Internet) nói anh H1 đang đến và bảo L1 với T2 cùng Đ đi ra khu vực đường L - G thuộc phường P, thị xã Q để chuẩn bị chặn đường cướp xe của anh H1. Sau đó, Đ đi bộ đến gặp L1 và T2, còn T7 đi bộ một mình ra bờ hồ gặp anh H1 và anh L2 Ngô Đức T6, sinh ngày 21/6/2006, HKTT: Thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (là bạn anh H1) ngồi chơi, nói chuyện. Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, khi đang ngồi nói chuyện thì T7 lấy lý do đi gửi đồ cho bạn để rủ anh H1 cùng đi, anh H1 đồng ý. Sau đó, anh H1 đưa xe mô tô BKS 22AA-148.92 cho T7 điều khiển chở anh H1 và anh T6 đi qua khu vực đường liên khu theo hướng khu D - khu G. Khi di chuyển trên đường liên khu không gặp nhóm Đ, T2, L1 nên khi đi đến khu vực trường THCS P thuộc khu G, phường P thì T7 dừng xe đi vào 01 ngõ ven đường lấy điện thoại giả vờ gọi điện khoảng 02 phút rồi đi bộ quay lại điều khiển xe mô tô chở anh H1 và anh T6 đi quay lại đường liên khu theo hướng G – Do Nha. Lúc này, Đ gặp L1 và T2 rồi cùng đi đến điểm hẹn trước đó với T7, khi đi được khoảng 100m, Đ lấy 02 gậy gỗ dài khoảng 70 - 80cm, hình trụ trọn, đường kính khoảng 03 - 05cm ở sườn đường rồi đưa cho L1 cầm 01 gậy. Đi tiếp một đoạn thấy đường vắng vẻ, Đ bảo L1 đứng phía trước, còn Đ và T2 đứng phía sau cùng lấp vào bụi cây ven đường bên trái thuộc địa phận khu phố D. Đến khoảng 05 giờ 10 phút cùng ngày, T7 điều khiển xe chở anh H1 và anh T6 đi qua thì L1 cầm gậy gỗ từ bụi cây ven đường lao ra vụt một nhát vào phần áo sau lưng của anh T6. Lúc này, Đ và T2 lao ra đứng giữa đường hô “dừng xe lại” thì T7 dừng xe lại, Đ đi đến vụt anh H1 nhưng không trúng. Khi này, T7 đẩy xe về phía trước để làm đổ xe thì Đ giơ gậy lên vụt T7 không trúng. Sau đó, T7 cùng anh T6 bỏ chạy, còn anh H1 do ngồi giữa nên khi xe mô tô bị đổ đã bị ngã ở sườn ruộng thì Đ vụt một cái vào người anh H1. Khi thấy anh H1 không chống trả thì Đ dựng xe mô tô BKS 22AA-148.92 chở L1 và T2 đến phòng trọ của chị Lô Quỳnh H3, sinh năm 2005, (chị ruột của Đ) ở tại: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi L1 và Đ vứt gậy gỗ tại khu vực ven đường khu Do N. Sau khi nhóm Đ, Tuấn L3 cướp được xe mô tô, T7 cùng anh T6 quay lại gặp anh H1 rồi cùng đi bộ về phòng trọ. Do sợ bị phát hiện nên khi đến phòng trọ của chị H3, Đ bảo L3 tháo BKS 22AA-148.92 để ở trong cốp xe. Sau đó, Đ bắt xe khách đi Hà Nội còn L3 và T2 điều khiển xe mô tô BKS 22AA-148.92 đến 01 quán internet tại khu vực huyện T chơi game. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, T7 sợ hành vi cướp xe mô tô của anh H1 bị phát hiện nên nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho L3 mang xe mô tô về để trả anh H1. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô BKS 22AA-148.92 chở L3 về để ở đường thuộc khu phố P,

phường P rồi cùng đi đến quán Internet chơi và nhắn tin qua ứng dụng Messenger báo cho Trường V để xe nhưng do điện thoại của T7 bị hỏng nên không nhận được tin nhắn của L3. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, L3 và T2 đi bộ đến nơi để xe mô tô BKS 22AA-148.92 thì thấy xe mô tô vẫn để tại đây nên T2 điều khiển xe mô tô chở L3 đến quán B ở khu C, phường V, TP . để cầm cố. Khi đến nơi, L3 đứng ngoài còn T2 đi vào gặp 01 người đàn ông không quen biết đặt vấn đề cầm cố xe nhưng không có giấy tờ nên người đàn ông này không nhận mà dẫn T2 đến quán bị - a “T & C” của Lê Sỹ C, sinh năm 1995, HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ở tại: Khu Đ, phường N, TP . để cầm cố. Khi đến quán, T2 cùng người đàn ông trên đặt vấn đề cắm xe nhưng C không nhận cầm cố tài sản thì T2 nhờ C giới thiệu người nhận cầm cố. C gọi điện cho anh Nguyễn Duy K1, sinh năm 1988, HKTT: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (là chủ cơ sở cầm đồ “Tâm An” ở khu Đ, phường N, TP .). Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, anh K1 đến quán bi - a “T & C” thì T2 đặt vấn đề cầm cố xe mô tô BKS 22AA-148.92, anh K1 hỏi giấy tờ xe thì T2 nói đây là xe của bạn đang cần tiền nên cầm cố và không có giấy tờ nên anh K1 không nhận cầm xe nhưng đồng ý cho T2 vay số tiền 4.500.000 đồng để lại xe mô tô 22AA-148.92 làm tin. Sau đó anh K1 đưa cho T2 số tiền 4.500.000 đồng thì người đàn ông không quen biết yêu cầu T2 trả tiền công đi, T2 đồng ý và đưa cho người đàn ông số tiền 800.000 đồng rồi nhờ người đàn ông chở về khu vực phường V gặp L3. Số tiền 3.700.000 đồng còn lại T2 đưa cho L3 chia cho Đ số tiền 1.000.000 đồng và cho T7 số tiền 200.000 đồng. Còn số tiền 2.500.000 đồng T2 và L3 cùng bắt xe khách về quê và cùng tiêu sài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 31 ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q kết luận: "01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, BKS 22AA-148.92, số khung: RLHJA3933RY090422, số máy: JA70E0394693, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá tháng 6/2024 trị giá là 16.000.000 đồng".

Với nội dung trên, Cáo trạng số: 154/CT-VKS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Vi Xuân T, Lô Anh Đ, Bùi Văn L1 và Lê Sỹ T2 phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d, Khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Vi Xuân T, Lô Anh Đ, Bùi Văn L1, Lê Sỹ T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và thừa nhận, cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đều xin miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T là ông Vi Văn K: Nhất trí với lời trình bày của bị cáo T, không bổ sung gì thêm.

Người bị hại là anh Nguyễn Quang H1 và đại diện theo pháp luật của người bị hại là ông Nguyễn Văn T4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, xác nhận đã được nhận lại chiếc xe moto nêu trên và không yêu cầu gì, đồng thời đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Nguyễn Duy K1 và anh L2 Ngô Đức T6 xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố: Các bị cáo Vi Xuân T, Lô Anh Đ, Bùi Văn L1 và Lê Sỹ T2 phạm tội “Cướp tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 47, 54, 58, 91, 101 Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

- Xử phạt:

+ Bị cáo Vi Xuân T từ 06 năm 03 tháng đến 06 năm 09 tháng tù.

+ Bị cáo Lô Anh Đ từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

+ Bị cáo Bùi Văn L1 từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

+ Bị cáo Lê Sỹ T2 từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm 03 tháng tù.

- Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng của bị cáo T.

- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo là ông Trần Văn T5 và ông Nguyễn Văn H2 nhất trí với quan điểm của đại diện VKS về tội danh của các bị cáo. Do các bị cáo đều nhỏ tuổi, phạm tội mang tính bồng bột, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Các bị cáo và người đại diện theo pháp luật đều nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, bị hại, xác định hiện trường vụ án, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ

sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

Bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và trình bày đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình. Do vậy, những người này vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan, kết luận định giá và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:

Do không có tiền tiều sài cá nhân Vi Xuân T đã nảy sinh ý định cướp xe mô tô BKS 22AA-148.92 của anh Nguyễn Quang H1. Tbảo với Lô Anh Đ, Bùi Văn L1 và Lê Sỹ T2 là rủ anh H1 đi chơi qua khu vực đường L - G thuộc phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để chặn đường cướp xe, tất cả đều đồng ý. Đến khoảng 05 giờ 10 phút ngày 13/6/2024, khi T điều khiển xe mô tô BKS 22AA-148.92 chở anh Nguyễn Quang H1 và anh L2 Ngô Đức T6 đi qua đường L - G thuộc khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh thì Lô Anh Đ, Bùi Văn L1, Lê Sỹ T2 có hành vi chặn đường, Đ dùng 01 gậy gỗ dài khoảng 70 - 80cm, hình trụ trọn, đường kính khoảng 03 - 05cm vụt 01 cái vào người anh H1 còn L1 cầm gậy gỗ dài khoảng 70 - 80cm, hình trụ trọn, đường kính khoảng 03 - 05cm vụt 01 cái vào anh T6 để chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh, BKS 22AA-148.92 trị giá 16.000.000 đồng của anh H1.

Do vậy, các bị cáo Vi Xuân T, Lô Anh Đ, Bùi Văn L1 và Lê Sỹ T2 phạm tội "Cướp tài sản" quy định tại điểm d, Khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố.

[2.2] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì thấy: T là người khởi xướng và chở anh H1 đến khu vực vắng vẻ để các bị cáo còn lại cướp tài sản nên T có vai trò cao nhất; tiếp đến là Đ và L1 là người trực tiếp dùng hung khí đánh và dọa anh H1 nên có vai trò thứ hai và ngang nhau; T2 ủng hộ và cùng với các bị cáo còn lại dọa anh H1, trực tiếp thực hiện việc mang xe mô tô nêu trên đi vay tiền nên có vai trò thấp nhất.

[2.3] Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an của địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, áp dụng Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với các bị cáo là không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

[2.4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; tác động gia đình bồi thường cho bị hại và người liên quan nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội khi dưới 18 tuổi, điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[2.6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[2.7] Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Wave A, BKS 22AA-148.92 của anh Nguyễn Quang H1 bị các bị cáo chiếm đoạt, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1 là đúng quy định.

Đối với 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng của bị cáo T mà T dùng để nhắn tin cho các bị cáo khác và bị hại để thực hiện hành vi cướp tài sản nêu tren, là công cụ phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[2.8] Liên quan đến vụ án này:

Đối với thương tích của anh Nguyễn Quang H1 và anh L2 Ngô Đức T6 do bị cáo Đ và L1 dùng gậy gỗ đánh khi thực hiện hành vi cướp tài sản. Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích nhưng anh H1 và anh T6 chỉ bị xây sát ngoài da và từ chối giám định thường tích, đều không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì nên cơ quan CSĐT không xem xét xử lý đối với các bị cáo về hành vi gây thương tích cho anh H1 và anh T6 là phù hợp.

Đối với người đàn ông không quen biết đã đưa T2 đến gặp anh C và anh K1 để đặt lại xe và vay tiền của anh K1 quá trình điều tra T2 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định.

Đối với anh Nguyễn Duy K1 đã nhận đặt lại xe mô tô BKS 22AA-148.92 của bị cáo T2. Quá trình điều tra xác định anh K1 không biết xe mô tô trên là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với 02 gậy gỗ dài khoảng 70 - 80cm, thân gậy hình trụ có đường kính khoảng 03 - 05cm của bị cáo L1 và Đ sử dụng để đánh anh H1 để chiếm đoạt tài sản sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã vứt ở ven đường thuộc khu phố D, phường L CSĐT Công an thị xã Q đã ra thông báo truy tìm vật chứng đến nay chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.

[2.9] Về án phí: Bị cáo Lê Sỹ T2, Vi Xuân T thuộc hộ nghèo; bị cáo Lô Anh Đ, Bùi Văn L1 là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đều xin miễn án phí nên miễn án phí cho các bị cáo này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Vi Xuân T, Lô Anh Đ, Bùi Văn L1 và Lê Sỹ T2 phạm tội “Cướp tài sản”.

2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 47, 54, 58, 91, 101 Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 329, 331, 333 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

3. Xử phạt:

- Bị cáo Vi Xuân T 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

- Bị cáo Lô Anh Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

- Bị cáo Bùi Văn L1 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

- Bị cáo Lê Sỹ T2 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

4. Tạm giam các bị cáo Vi Xuân T, Lô Anh Đ, Bùi Văn L1 và Lê Sỹ T2, mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

5. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng (đã qua sử dụng), theo biên bản giao nhận vật chứng số 03 ngày 01/10/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục THADS huyện Q.

6. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lê Sỹ T2, Vi Xuân T, Lô Anh Đ và Bùi Văn L1.

7. Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật và người bào chữa của các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thị xã Quế Võ;
  • - Công an thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan, người đại
  • diện theo pháp luật, người bào chữa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Lưu HS, VT;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Đình Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HSST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về cướp tài sản

  • Số bản án: 12/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger