Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Diệp.

Bà Nông Thị Ngọc Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nông Văn T

sinh ngày 15 tháng 5 năm 1991 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn H và bà Chu Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 26/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2023; tiền sự: Không có; nhân thân: Đã bị xử lý trách nhiệm hình sự; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hứa Thị L, sinh năm 1967.

Trú tại: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân bị cáo Nông Văn T là người nghiện chất ma túy H2 từ năm 2017. Khoảng 08 giờ ngày 07/02/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12S1-016.44, nhãn hiệu Honda Wave đi từ thôn N, xã H, huyện B đến khu vực bến xe khách T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, bị cáo Nông Văn T tìm gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ để mua ma túy với mục đích để sử dụng. Bị cáo đưa cho người đàn ông số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Người đàn ông đưa cho bị cáo 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có chứa ma túy Heroin. Sau đó, bị cáo mang số ma tuý đi đến đoạn đường vắng và lấy một nửa ra sử dụng. Số ma túy còn lại bị cáo gói trong tờ giấy bạc và cho vào vỏ bao thuốc lá có sẵn rồi cất vào túi quần phía trước bên phải và điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực Km63+900 Quốc lộ A thuộc khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 301/KL-KTHS ngày 09/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,113 gam (đã trừ bì)”.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nông Văn T: Nông Văn T khai không quen biết. Thời điểm mua ma tuý do Nông Văn T lên cơn nghiện nên không nhớ đặc điểm nhận dạng của người bán ma tuý. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số loại JC521; màu sơn trắng - vàng - đen, biển kiểm soát 12S1–016.44, đăng ký mang tên Lương Đình H3, sinh năm 1978, trú tại thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh Lương Đình H3 đã bán chiếc xe cho Hoàng Văn N, sinh năm 1993, trú tại thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau đó, Hoàng Văn N đã bán lại cho bị can Nông Văn T. Qua xác minh xác định chiếc xe trên do bà Hứa Thị L, sinh năm 1967, trú tại thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là mẹ kế của Nông Văn T đưa tiền cho Nông Văn T mua về để phục vụ sinh hoạt gia đình. Bà Hứa Thị L không biết việc bị can sử dụng để đi mua ma túy.

Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS-BG ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 07/02/2024 đến nay.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ghi chữ “Tang vật quả tang Nông Văn T” (cũ), có chữ ký cùng tên cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H4, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,080 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu vật giám định hết) và các vỏ bao gói cũ; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng (cũ).

Trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số loại JC521, loại xe hai bánh; màu sơn trắng - vàng - đen, biển kiểm soát 12S1-016.44 cho bà Hứa Thị L.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo xin đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà bị cáo Nông Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Hồi 16 giờ 15 phút ngày 07/02/2024, tại Km63+900 Quốc lộ A thuộc địa phận khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện B phát hiện bắt quả tang bị cáo Nông Văn T có hành vi tàng trữ 01 (một) gói ma túy Heroin có khối lượng 0,113 gam; bị cáo mua tại tỉnh Thái Nguyên mang về sử dụng cho bản thân. Do đó, có căn cứ xác định bị cáo Nông Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng hành vi bị cáo thực hiện đi mua ma túy về tàng trữ nhằm để sử dụng cho mục đích cá nhân là hành vi nguy hiểm và nghiêm trọng. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, sản xuất, mua bán trái phép chất ma túy đều vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo thực hiện là lỗi cố ý, coi thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Ngày 26/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 19/3/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là người nghiện chất ma túy, đã từng bị kết án, nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật hình sự nghiêm cấm, nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều đó thể hiện bị cáo coi thường pháp luật.

[7] Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) phong bì ghi chữ “Tang vật quả tang Nông Văn T” (cũ), có chữ ký cùng tên cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H4, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,080 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu vật giám định hết) và các vỏ bao gói cũ và 01 (một) vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng (cũ).

[9] Trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số loại JC521, loại xe hai bánh; màu sơn trắng - vàng - đen, biển kiểm soát 12S1-016.44 cho bà Hứa Thị L.

[10] Căn cứ theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nông Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 262; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Nông Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 07/02/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) phong bì ghi chữ “Tang vật quả tang Nông Văn T” (cũ), có chữ ký cùng tên cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H4, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,080 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu vật giám định hết) và các vỏ bao gói cũ và 01 (một) vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng (cũ).

    Trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số loại JC521, loại xe hai bánh; màu sơn trắng - vàng - đen, biển kiểm soát 12S1-016.44 cho bà Hứa Thị L.

    Những vật chứng, tài sản trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia ngày 09 tháng 5 năm 2024.

  3. Về án phí: Bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Dương Thị Hiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 16 giờ 15 phút ngày 07/02/2024, tại Km63+900 Quốc lộ A thuộc địa phận khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện B phát hiện bắt quả tang bị cáo Nông Văn T có hành vi tàng trữ 01 (một) gói ma túy Heroin có khối lượng 0,113 gam; bị cáo mua tại tỉnh Thái Nguyên mang về sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger