Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 24-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đăng Ký (Nguyên Bí thư đoàn thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) và ông Võ Sỹ Đàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử II Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 03/02/2004; Nơi sinh: Tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn N, xã CG, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; CCCD số: [...], cấp ngày: 09/6/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Lê Tiến S (Đã mất) và bà Nguyễn Thị Th; Vợ, con: Chưa; tiền án: Ngày 08/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 36/2022/HS-ST, đến ngày 12/9/2023 đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 53/2021/HS-ST, đến ngày 25/5/2022 đã chấp hành xong hình phạt tù (Tại bản án này bị cáo bị xét xử khi chưa đủ 18 tuổi); bị cáo bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 14/11/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 27/02/2007 (Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 08 tháng 13 ngày); Nơi sinh: Tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn KL, xã C, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; CCCD số: [...], cấp ngày: 17/12/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Phan Thị H; Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/10/2021 bị Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 382/QĐ-XPVPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức cảnh cáo; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H: Ông Lê Văn Q– Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Văn H: Ông Phan Đức B; Sinh năm: 1958; Nơi cư trú: Thôn KL, xã C, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; là ông ngoại của bị cáo H; có mặt.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Bà Đinh Thị H – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
  • - Người bị hại:
    • + Cháu Nguyễn Lam Gi; Sinh ngày: 21/10/2020; địa chỉ: Thôn Lâm H, xã XL, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Người đại diện theo pháp luật của người bị hại: Chị Hà Thị Th; sinh năm: 1996; địa chỉ: Thôn Lâm H, xã XL, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Giáo viên; Là mẹ của người bị hại; vắng mặt.
    • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Bà Nguyễn Thị Ng – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • + Anh Nguyễn Văn B; Sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn Lâm H, xã XL, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Nhân viên Điện lực; vắng mặt.
    • + Chị Hoàng Thị Th; Sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn N, xã CG, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
    • + Chị Nguyễn Thị Th; Sinh năm: 1975; Địa chỉ: Thôn N, xã CG, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.
    • + Anh Phạm Đình H; Sinh năm: 1996; Địa chỉ: Phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 10/11/2023, Lê Văn H điều khiển xe máy nhãn hiệu CUPJAPAN, biển kiểm soát 38AN - 004.88 (của bà Nguyễn Thị Th mẹ của H) chở Nguyễn Văn H đến nhà bạn là Hoàng Văn N, trú tại thôn KĐ, xã C, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh chơi nH N không ở nhà. Tại đây, H nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản và nói với H: Tối ta đi móc cốp hè (Ý là lấy trộm tài sản để trong xe máy). H đồng ý. Sau đó, H và H để xe máy tại nhà N, cùng nhau đi bộ đến xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, H và H đi qua nhà chị Hà Thị Th, sinh năm 1996, trú tại thôn Lâm H, xã XL, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh thì H thấy cháu Nguyễn Lam Gi (sinh năm 2020) đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 (Điện thoại của anh Nguyễn Văn B bố cháu Gi cho mượn) và cháu Nguyễn Gia Kh, sinh năm 2018 (đều là con của chị Th) đang đứng chơi trong sân nhà. Lúc này, H ra hiệu cho H thì H hiểu ý và đi lại khu vực ngã tư ở gần nhà chị Th để cảnh giới cho H. H đứng bên ngoài cửa cổng (cổng nhà đã khóa) gọi: Em ơi, em ơi. Cháu Gi cầm điện thoại cùng cháu Kh đi ra gần sát cửa cổng thì H dùng 02 ngón tay phải luồn qua song sắt cửa cổng nắm áo kéo cháu Gi vào sát cửa cổng, còn tay trái thò qua cửa cổng và giật chiếc điện thoại trên tay cháu Gi đang cầm rồi bỏ chạy, thì H cũng chạy theo. Chạy được một đoạn H nói: Giờ bán ở đâu? Thì H trả lời: Ở gần Trường Đại học Vinh có cửa hàng Hồng Anh bán được giá. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, H và H đến nhà Hoàng Văn N lấy xe máy rồi H điều khiển xe máy chở H đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Hoàng Anh Mobile, địa chỉ: số 219, đường Lê Duẩn, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Tại đây, H đưa chiếc điện thoại Iphone 11 bán cho anh Phạm Đình H, sinh năm 1996, trú tại Phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (là nhân viên của cửa hàng Hoàng Anh Mobile) với giá 2.500.000 đồng. Anh H kiểm tra thấy máy điện thoại bị rạn vỡ màn hình trước và mặt sau, không có mật khẩu màn hình, không lắp sim và không đăng nhập tài khoản Icloud và hỏi: Đây là máy điện thoại của ai? H trả lời: Đây là máy điện thoại của H. Anh H đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng và chuyển khoản cho H theo số tài khoản 030204301109 Ngân hàng MB bank mang tên LE VAN HUNG, sau khi kiểm tra tài khoản qua điện thoại Iphone 6 của H thấy tiền đã được chuyển thì H và H đi về sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL- HĐĐGTS ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Nghi Xuân, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, bị rạn vỡ màn hình phía trước và vỏ sau, tại thời điểm định giá tháng 11/2023 là 5.900.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, bị rạn vỡ màn hình trước và vỏ sau, không có mật khẩu màn hình, không lắp sim, đã qua sử dụng (thu giữ từ anh Phạm Đình H tự nguyện giao nộp). Quá trình điều tra, đã xác định được chiếc điện thoại di động này là tài sản của anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1992, trú tại thôn Lâm H, xã XL, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (Bố của cháu Gi). Ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6 của Lê Văn H sau khi cướp giật được chiếc điện thoại của cháu Gi, khoảng 02 đến 03 ngày sau H đã làm mất chiếc điện thoại của mình, không xác định được mất ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại chị Hà Thị Th đã nhận lại tài sản là 01 chiếc điện thoại Iphone 11, nay không yêu cầu các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự; Quá trình điều tra, Lê Văn H và Nguyễn Văn H đã tác động gia đình bồi thường cho người liên quan, anh Phạm Đình H số tiền 2.500.000 đồng, nên anh H không yêu cầu gì về dân sự.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 12/CT –VKS-NX ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân đã truy tố các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên lời trình bày có trong hồ sơ vụ án như lời trình bày của bị cáo và nội dung bản cáo trạng, đại diện của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về mặt dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn H mức án từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/11/2023.

Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 98; khoản 1 Điều 101, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H mức án từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra còn đề xuất về án phí.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên tại luận cứ bào chữa nộp tại phiên tòa đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H đề nghị HĐXX áp dụng các quy định tại Chương XII và các tình tiết giảm nhẹ của Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất; bị cáo H xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 10/11/2023, Lê Văn H và Nguyễn Văn H rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Khi đi bộ đến trước cổng nhà chị Hà Thị Th ở thôn Lâm H, xã XL, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, H phát hiện thấy cháu Nguyễn Lam Gi (sinh năm 2020) cầm chiếc điện thoại Iphone 11 đang chơi ở sân nhà nên ra hiệu cho Nguyễn Văn H cảnh giới rồi H đi đến sát cửa cổng nhà chị Th (cửa cổng đã bị khóa) gọi cháu Gi, thì cháu Gi đi ra gần cửa cổng. Lúc này, H dùng tay phải luồn qua song sắt nắm áo kéo cháu Gi sát cánh cửa cổng, còn tay trái thò qua cửa cổng giật chiếc điện thoại mà cháu Gi đang cầm trên tay rồi cùng H bỏ chạy. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, Lê Văn H và Nguyễn Văn H đưa chiếc điện thoại cướp giật được đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Hoàng Anh Mobile, địa chỉ: số A, đường Lê Duẩn, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bán cho anh Phạm Đình H (là nhân viên cửa hàng) lấy số tiền 2.500.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Giá trị tài sản các bị cáo đã cướp giật là 5.900.000 đồng (Năm triệu chín trăm ngàn đồng).

[3] Hành vi của các bị cáo công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác có trị giá 5.900.000 đồng rồi tẩu thoát; các bị cáo thực hiện hành vi khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo cướp giật tài sản của người bị hại cháu Nguyễn Lam Gi – sinh ngày 21/10/2020 mới hơn 03 tuổi là dưới 16 tuổi vì vậy các bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

[5] Về đánh giá vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, Nguyễn Văn H rủ Lê Văn H đi trộm cắp tài sản. Sau đó, H phát hiện cháu Nguyễn Lam Gi đang cầm chiếc điện thoại Iphone 11 nên đã trực tiếp thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản”, còn Nguyễn Văn H cảnh giới cho Lê Văn H thực hiện hành vi phạm tội và cùng đi bán điện thoại nên giữ vai trò đồng phạm.

[6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn H đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo tác động nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho người đã mua điện thoại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy:

Đối với bị cáo Lê Văn H cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự. Theo đó việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo không được quá 3/4 mức hình phạt tù mà điều luật quy định. Xét thấy bị cáo là người chưa thành niên, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[8] Trong vụ án Phạm Đình H là nhân viên cửa hàng mua bán điện thoại di động Hoàng Anh Mobile, địa chỉ: số A, đường Lê Duẩn, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu tím do các bị cáo cướp giật được, anh Phạm Đình H không biết chiếc điện thoại đó là do phạm tội mà có, vì vậy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Đình H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với bà Nguyễn Thị Th (là mẹ đẻ của Lê Văn H) là chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu CUPJAPAN, sơn màu vàng, biển kiểm soát 38AN - 004.88, đăng ký xe là chị Lê Thị Thu H, sinh năm 2002, trú tại Thôn N, xã CG, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, bán lại cho bà Nguyễn Thị Th vào đầu tháng 11 năm 2023. H đã tự ý sử dụng xe làm phương tiện chở H đi bán điện thoại cướp giật được nhưng bà Nguyễn Thị Th không biết, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Nguyễn Thị Th và không thu giữ chiếc xe máy trên là đúng quy định nên HĐXX không xem xét.

[9] Về vật chứng: Các vật chứng đã được Cơ quan điều tra trả lại trong quá trình điều tra là đúng quy định nên HĐXX không xem xét.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Lê Văn H thuộc diện hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Các bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại, người đại diện của người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với bị cáo Lê Văn H.

    Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 98; khoản 1 Điều 101, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1, 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  3. Về hình phạt chính:
    • 3.1. Xử phạt Lê Văn H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/11/2023.
    • 3.2. Xử phạt Nguyễn Văn H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (Năm mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn H.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Nghi Xuân;
  • - CQCSĐT Công an huyện Nghi Xuân;
  • - CQTHAHS Công an huyện Nghi Xuân;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã C, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS huyện Nghi Xuân;
  • - Hồ sơ Công an;
  • - Người bào chữa, người BVQLIHP của người bị hại;
  • - Bị cáo; người đại diện của bị cáo, Người bị hại, Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”. 3. Về hình phạt chính: 3.1. Xử phạt Lê Văn H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/11/2023. 3.2. Xử phạt Nguyễn Văn H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (Năm mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger