|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số:12/2024/HS-ST Ngày 24/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Tạ Thanh Tuấn. |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Cổ Thế Chung; |
| Ông Bùi Thế Duy. |
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: Bà Đặng Thúy Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với:
- Bị cáo Nguyễn Tiến V (tên gọi khác: không có), sinh ngày 15/02/1977, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến D (đã chết) và bà Lê Thị S; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1984 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/10/2016, bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, thi hành xong ngày 20/10/2016. Ngày 18/3/2023 bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 101/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xử phạt 1.500.000đ, thi hành xong ngày 26/3/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, sau đó chuyển đến Trại tạm giam Công an tỉnh Q cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị S, sinh năm 1954; trú tại: thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị, có mặt.
Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; trú tại: khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị, có mặt.
- Người làm chứng:
Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1991; trú tại: thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị, vắng mặt.
Anh Phan Ngọc L1, sinh năm 1988; trú tại: thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 12/10/2023, Nguyễn Tiến V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát (BKS) 74B1- 098.44 mượn của chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1988, trú tại khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, em gái V) đến đường T thuộc Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) mua 207 viên ma túy với giá 3.500.000 đồng rồi đem về nhà (thuộc thôn A, xã G) sử dụng hết 04 viên, số còn lại cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.
Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện G tuần tra tại địa bàn xã G, huyện G phát hiện V điều khiển xe mô tô BKS 74B1- 098.44 lưu thông trên đường liên thôn xã G đến cổng chào thôn A thì yêu cầu dừng xe. Lúc này, tay trái V nắm lại, nghi vấn V1 đang cầm ma túy nên Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, V1 mở lòng bàn tay phát hiện 01 túi ni lông màu đỏ bên trong có 02 túi ni lông chứa tổng cộng 14 viên nghi là ma túy (trong đó 01 túi màu hồng - trắng chứa 04 viên, 01 túi màu hồng chứa 10 viên) nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của V1 thu giữ trên bàn gỗ của phòng bên hông nhà 01 hộp giấy màu nâu, bên trong chứa 01 hộp giấy màu xanh - vàng, phía dưới đáy hộp có 181 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh, 01 hộp giấy màu trắng - vàng - đỏ, bên trong có 13 túi ni lông nhiều màu sắc, kích thước khác nhau. Cơ quan điều tra thu giữ tổng cộng 197 viên nén (trong đó có 195 viên màu hồng, 02 viên màu xanh).
Quá trình làm việc V1 khai nhận, khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Ngọc L1 (sinh năm 1988, trú tại thôn A, xã G, huyện G, bạn của V1) sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Redmi, màu đen gắn thẻ sim số thuê bao 0967.425.064 của mình gọi đến số thuê bao 0328.271.204 đăng ký chủ sở hữu bà Lê Thị S (sinh năm 1954, trú tại thôn A, xã G, huyện G, mẹ của V1) đã cho V1 gắn trong ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia, màu đỏ - đen của V1 hỏi: “Có không để em hai trăm? ”, V1 hiểu ý nên nói: “Có gì 20 phút nữa anh gọi”.
Khoảng 16 giờ 30 phút, thấy cuộc gọi nhỡ của V1 trong máy ĐTDĐ của mình, L1 gọi lại thì V1 nói: “Ở đâu anh đem tới?”, L1 trả lời: “Để em chạy xuống cũng được”. Vì không muốn L1 đến nhà nên cả hai thỏa thuận gặp nhau tại đường bê tông của thôn A, xã G. Tại đây, V1 đưa 01 gói ni lông chứa 06 viên ma túy bán cho L1 với giá 200.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 02/10/2023, Hoàng Văn T1 (sinh năm 1991, trú tại thôn A, xã G, huyện G, bạn của V1) sử dụng ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo, màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao 0941.683.557 của mình gọi đến số thuê bao 0328.271.204 gắn trong ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia, màu đỏ - đen của V1 hỏi: “Có không để em hai xị?”, V1 hiểu ý nên trả lời: “Có, em xuống cổng chào anh đưa cho”. Tại đây, V1 lấy từ túi quần bên trái của mình 01 miếng ni lông màu trắng, gói 04 viên ma túy giao cho T1 rồi nhận 200.000 đồng. Số ma túy này, V1 mua trước đó (không nhớ rõ thời gian và bao nhiêu viên) của người đàn ông (không rõ lai lịch nói trên) tại đường T, Phường A, thành phố Đ. Sau khi sử dụng dần, số còn lại bán cho T1.
Tại bản Kết luận giám định số 1019/KL-KTHS, ngày 19/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q xác nhận: “14 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu mã số PS3 2159812 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 1,3876g. Các viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu mã số PS3 2159811 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 18,4147g. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”. 02 viên nén hình trụ tròn màu xanh trên bề mặt mỗi viên có chữ A. Không tìm thấy chất ma túy trong 02 viên nén màu xanh, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3 2159811 gửi đến giám định, khối lượng mẫu là 0,1303g”.
Cáo trạng số 10/CT-VKS-GL ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tiến V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng các điểm b, i khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/10/2023.
* Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ, gồm:
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định gồm:
- + 01 túi niêm phong ký hiệu NS3 2117307, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa: 11 viên nén màu hồng, có khối lượng 1,0843g và 0,2362g chất bột màu hồng; nhiều viên nén màu hồng có khối lượng 17,4056g và 0.9004g chất bột màu hồng, tất cả là chất ma tuý loại Methamphetamine; 0,0799g chất bột màu xanh không phải là chất ma túy cùng bao gói còn lại sau giám định.
- + 01 miếng ni lông màu đỏ, kích thước 9cm x 4,6cm, 01 túi ni lông màu đỏ, kích thước 3,4cm x 2,5cm, 01 túi ni lông màu trắng- đỏ, kích thước 3,8cm x 2,4cm; 01 túi ni lông màu hồng, hình chữ nhật (kích thước 9cm x 6,5cm), mặt ngoài túi ni lông có in hình chữ “A” màu trắng; 01 hộp giấy màu nâu, hình hộp chữ nhật (kích thước 32cm x 9cm x 2,34cm); 01 hộp giấy màu xanh-vàng, hình hộp chữ nhật (kích thước 8,3cm x 9,5cm x 6,7cm); 01 hộp giấy màu trắng-đỏ-vàng, hình hộp chữ nhật, (kích thước 9cm x 13cm x 21cm); 13 túi ni lông nhiều màu sắc, kích thước khác nhau là: 5cm x 4cm, 6,5cm x 4cm, 4cm x 4,5cm, 4cm x 3,5cm; 4,5cm x 3,2cm, 3,7cm x3,7cm, 3cm x 4,1cm, 3,4cm x 4,4cm, 2,5cmx 4,5cm, 4,1cm x 4,4cm, 4cm x 3,4cm, 3cm x 3cm, 3,4 x 3,3cm.
Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số thuê bao 0328.271.204, số seri sim: 8984048000905364172 ( thẻ sim này gắn kèm trong ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen-đỏ, số Imeil: 358603/04/271832/9, Imei2: 358603/04/271833/7).
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G và có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
- Tịch thu sung công gồm:
- + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen-đỏ, số Imeil: 358603/04/271832/9, Imei2: 358603/04/271833/7 (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G và có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.).
- + Số tiền 400.000 đồng tiền Ngân hàng N phát hành của V do phạm tội mà có (Hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1047874.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh mở tại Kho bạc Nhà nước huyện G theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh).
* Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên họ đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên xét thấy việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Phân tích chứng cứ buộc tội và gỡ tội đối với các bị cáo: Xét lời khai nhận các hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, bản kết luận giám định, lời khai của của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Nguyễn Tiến V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ngày 12 tháng 10 năm 2023 đã có hành vi mua trái phép 205 viên ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng và bán lại ma túy để kiếm lời. Cùng ngày, V đã sử dụng hết 04 viên ma túy và bán cho anh Phan Ngọc L1 06 viên ma túy với số tiền 200.000đ, số ma túy còn lại là 195 viên, có khối lượng 19,803g là ma túy loại Methamphetamine bị cáo cất giữ tại nhà với mục đích buôn bán kiếm lời. Ngoài ra, trước đó ngày 02/10/2023, V đã bán cho anh Hoàng Văn T1 04 viên ma túy với số tiền 200.000đ, số ma túy này V mua trước đó (không nhớ rõ thời gian và bao nhiêu viên) của người đàn ông (không rõ lai lịch nói trên). Như vậy, bị cáo đã hai lần bán ma túy cho Phan Ngọc L1 06 viên, Hoàng Văn T1 04 viên. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến V đã cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” với các tình tiết định khung là “phạm tội 02 lần trở lên” và “......Methamphetamine,....có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” theo quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là người đã sử dụng ma túy nên nhận thức được việc mua bán chất ma túy là trái pháp luật, hiểu được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội, nhưng vì hám lợi và để thõa mãn ham muốn cá nhân nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm để giáo dục trực tiếp đối với bị cáo; đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú các hành vi phạm tội của mình cụ thể: trong quá trình điều tra bị cáo đã tự khai ra hai lần bán ma túy cho Phan Ngọc L1 06 viên và Hoàng Văn T1 04 viên. Gia đình bị cáo có nhiều người người có công với cách mạng: Bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, được chứng nhận là thương binh, được Ban thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị tuy tặng huy hiệu 45 năm tuổi Đảng và mẹ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, là người được hưởng trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, được Ban tặng Kỷ niệm chương Thanh niên xung phong, được Chủ tịch UBND tỉnh Q tặng Kỷ niệm chương Chiến sỹ bảo vệ T2 cổ Quảng Trị. Căn cứ vào các tình tiết nêu trên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vây, chấp nhận ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo mức án trên mức khởi điểm của khung hình phạt trong khoảng từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội qua đó thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS thì thấy rằng, bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định gồm:
- + 01 túi niêm phong ký hiệu NS3 2117307, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa: 11 viên nén màu hồng, có khối lượng 1,0843g và 0,2362g chất bột màu hồng; nhiều viên nén màu hồng có khối lượng 17,4056g và 0.9004g chất bột màu hồng, tất cả là chất ma tuý loại Methamphetamine; 0,0799g chất bột màu xanh không phải là chất ma túy cùng bao gói còn lại sau giám định.
- + 01 miếng ni lông màu đỏ, kích thước 9cm x 4,6cm, 01 túi ni lông màu đỏ, kích thước 3,4cm x 2,5cm, 01 túi ni lông màu trắng- đỏ, kích thước 3,8cm x 2,4cm; 01 túi ni lông màu hồng, hình chữ nhật (kích thước 9cm x 6,5cm), mặt ngoài túi ni lông có in hình chữ “A” màu trắng; 01 hộp giấy màu nâu, hình hộp chữ nhật (kích thước 32cm x 9cm x 2,34cm); 01 hộp giấy màu xanh-vàng, hình hộp chữ nhật (kích thước 8,3cm x 9,5cm x 6,7cm); 01 hộp giấy màu trắng-đỏ-vàng, hình hộp chữ nhật, (kích thước 9cm x 13cm x 21cm); 13 túi ni lông nhiều màu sắc, kích thước khác nhau là: 5cm x 4cm, 6,5cm x 4cm, 4cm x 4,5cm, 4cm x 3,5cm; 4,5cm x 3,2cm, 3,7cm x3,7cm, 3cm x 4,1cm, 3,4cm x 4,4cm, 2,5cmx 4,5cm, 4,1cm x 4,4cm, 4cm x 3,4cm, 3cm x 3cm, 3,4 x 3,3cm.
Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số thuê bao 0328.271.204, số seri sim: 8984048000905364172 ( thẻ sim này gắn kèm trong ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen-đỏ, số Imeil: 358603/04/271832/9, Imei2: 358603/04/271833/7).
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G và có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
- Tịch thu sung công gồm:
- + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen-đỏ, số Imeil: 358603/04/271832/9, Imei2: 358603/04/271833/7 (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G và có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.).
- + Số tiền 400.000 đồng tiền Ngân hàng N phát hành của V do phạm tội mà có (Hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1047874.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh mở tại Kho bạc Nhà nước huyện G theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh).
Đối với chị Nguyễn Thị T là chủ sở hữu xe mô tô BKS 74B1-098.44 cho bị cáo mượn nhưng không biết sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự và trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ, chị T đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền 1.300.000₫ Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định tiền số tiền này là tiền thuộc sở hữu cá nhân của bị cáo nên đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của V, đây là hành vi vi phạm hành chính nên ngày 18/3/2023 Công an huyện G đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000đ, thi hành xong ngày 26/3/2023 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của anh Phan Ngọc L1 mua ma túy của V nhằm mục đích sử dụng, Cơ quan điều tra kiểm tra chất ma túy kết quả dương tính, đây là hành vi vi phạm hành chính nên ngày 18/10/2023 Công an huyện G ban hành Quyết định số 101/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000 đồng, thi hành xong ngày 04/01/2024 là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của anh Hoàng Văn T1 mua ma túy của V nhằm mục đích sử dụng, Cơ quan điều tra kiểm tra chất ma túy kết quả âm tính, nên không có căn cứ xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án này, Nguyễn Tiến V mua ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch nói trên) tại đường T, Phường A, thành phố Đ, không biết tên, địa chỉ; Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý trong một vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[9] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Quyết định tạm giam bị cáo còn dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam mới để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm b, i khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến V (tên gọi khác: không có) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V 09 (Chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 12/10/2023).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
- Tịch thu tiêu huỷ, gồm:
- + 01 túi niêm phong ký hiệu NS3 2117307, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa: 11 viên nén màu hồng, có khối lượng 1,0843g và 0,2362g chất bột màu hồng; nhiều viên nén màu hồng có khối lượng 17,4056g và 0.9004g chất bột màu hồng, tất cả là chất ma tuý loại Methamphetamine; 0,0799g chất bột màu xanh không phải là chất ma túy cùng bao gói còn lại sau giám định.
- + 01 miếng ni lông màu đỏ, kích thước 9cm x 4,6cm, 01 túi ni lông màu đỏ, kích thước 3,4cm x 2,5cm, 01 túi ni lông màu trắng- đỏ, kích thước 3,8cm x 2,4cm; 01 túi ni lông màu hồng, hình chữ nhật (kích thước 9cm x 6,5cm), mặt ngoài túi ni lông có in hình chữ “A” màu trắng; 01 hộp giấy màu nâu, hình hộp chữ nhật (kích thước 32cm x 9cm x 2,34cm); 01 hộp giấy màu xanh-vàng, hình hộp chữ nhật (kích thước 8,3cm x 9,5cm x 6,7cm); 01 hộp giấy màu trắng-đỏ-vàng, hình hộp chữ nhật, (kích thước 9cm x 13cm x 21cm); 13 túi ni lông nhiều màu sắc, kích thước khác nhau là: 5cm x 4cm, 6,5cm x 4cm, 4cm x 4,5cm, 4cm x 3,5cm; 4,5cm x 3,2cm, 3,7cm x3,7cm, 3cm x 4,1cm, 3,4cm x 4,4cm, 2,5cmx 4,5cm, 4,1cm x 4,4cm, 4cm x 3,4cm, 3cm x 3cm, 3,4 x 3,3cm.
Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số thuê bao 0328.271.204, số seri sim: 8984048000905364172 ( thẻ sim này gắn kèm trong ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen-đỏ, số Imeil: 358603/04/271832/9, Imei2: 358603/04/271833/7).
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G và có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
- Tịch thu sung công gồm:
- + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen-đỏ, số Imeil: 358603/04/271832/9, Imei2: 358603/04/271833/7 (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G và có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.).
- + Số tiền 400.000 đồng tiền Ngân hàng N phát hành của V do phạm tội mà có (Hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1047874.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh mở tại Kho bạc Nhà nước huyện G theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: bị cáo Nguyễn Tiến V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/4/2024); riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thanh Tuấn |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến V Mua bán trái phép chất ma túy
