Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HSST

Ngày 27/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm

có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Sa; Bà Nguyễn Thị Như .

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà: Kiều Thị T - Kiểm sát viên

Ngày 27/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: HÀ VĂN Q; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13/3/2000, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản É, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Hà Văn C, sinh năm 1979 và bà Lò Thị D, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 4 anh, em; bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: ngày 10/4/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, bị cáo chưa đi chấp hành quyết định này;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/6/2024, tạm giam từ ngày 03/7/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện T).

Người làm chứng:

  1. Đỗ Văn H, sinh năm 1994
  2. Tòng Văn H1, sinh năm 2000.

(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 27/6/2024, Hà Văn Q mượn xe mô tô của em họ tên là Lò Văn H2, sinh năm 2006; nơi cư trú: bản S, xã P, huyện T, nói là để đi mua thức ăn. Sau khi mượn được xe, Q điều khiển đi đến bản Hua Than, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Theo Hà Văn Q khai nhận: do khoảng 18 giờ ngày hôm trước (tức ngày 26/6/2024), Q đã đã đến bản Hua Than, xã M, huyện T để tìm mua Heroine. Tại bản Hua Than, Q đi vào nhà một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, có con trai tên là K) để hỏi mua Heroine nhưng người này nói không có. Q đã gửi lại người đó số tiền 200.000 đồng và hẹn sẽ quay lại lấy Heroine. Việc Q mượn xe anh H2 đến bản Hua Than, xã M, huyện T là để lấy Heroine như đã hẹn từ trước. Trên đường đi đến đoạn đường Nội đồng thuộc bản É, xã M thì Q gặp Tòng Văn H1 (sinh năm: 2000; nơi cư trú: bản Mường, xã M, huyện T) và Đỗ Văn H (sinh năm: 1994; nơi cư trú: bản S, xã P, huyện T). Qua nói chuyện, H1 và H hỏi Q mua Heroine nhưng Q không có và nói đang đi lấy Heroine. Thấy vậy, H1 và H góp tiền đưa cho Q để mua Heroine. H lấy ra 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho Q, Huế cũng lấy ra 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho Q. Nhận tổng số tiền 300.000 đồng, Q rồi bảo H và H1 đợi ở đó. Q điều khiển xe đến bản Hua Than, xã M, huyện T vào nhà người phụ nữ Q đã gửi 200.000 đồng để mua Heroine từ hôm trước. Khi Q đến, người phụ nữ đó đưa cho Q 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu trắng). Mua được H3, Q vào bụi cây ở ven đường trong bản Hua Than, lấy gói Heroine ra, cấu một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, Q chia thành 04 gói nhỏ (đều gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ), mục đích: để sử dụng và bán. Sau đó, Q cất giấu 4 gói Heroine vào chiếc ví màu đen của mình để trong túi quần mang về đến đoạn đường Nội đồng thuộc bản É, xã M, huyện T thì Q gặp lại H và Huế. Q đưa cho H 02 gói Heroine, nói là giá 200.000 đồng, bảo H và H1 tự chia nhau. Do trước đó H và H1 đưa cho Q 300.000 đồng nên Q có xin H và H1 số tiền thừa 100.000 để mua đồ ăn uống. H đồng ý cho Q 50.000 đồng, Q đã đổi tiền lẻ tại một quán tạp hóa gần đó rồi đưa lại cho H 50.000 đồng. Sau đó, Q đi về nhà em họ tại bản Sân Bay, xã P, huyện T.

Đối với Tòng Văn H1 và Đỗ Văn H, sau khi mua được H3 đã mang về đến bản Sân Bay, xã P, huyện T, lấy Heroine ra sử dụng thì bị Công an xã P, huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hồi 12 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, thu giữ 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Trên cơ sở lời khai của H và Huế, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Văn Q, thu giữ 02 gói Heroine (đều gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ), 01 ví màu đen.

Tại Kết luận giám định số 73 ngày 27/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 891 ngày 01/7/2024 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn Q có tổng khối lượng 0,06 gam; là ma túy, loại Heroine (H)”.

Vật chứng: 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,06 gam, đã gửi giám định toàn bộ (không hoàn lại mẫu vật); còn lại 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 ví màu đen, 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ và 02 phong bì niêm phong vật chứng hiện đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Hà Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng Đỗ Văn H, Tòng Văn H1 phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Hà Văn Q mức án từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu 01 ví màu đen, 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ của Hà Văn Q, 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng của Đỗ Văn H, Tòng Văn H1 và 02 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ. Truy thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng tiền bán trái phép chất ma tuý của Hà Văn Q.

Lời nói sau cùng, bị cáo Hà Văn Q xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin miễn án phí HSST.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Khoảng 11 giờ ngày 27/6/2024, sau khi mua được 01 gói Heroine, Hà Văn Q chia thành nhiều gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán. Ngay sau đó, tại bản Én Luông, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hà Văn Q đã cùng lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho 02 người là Đỗ Văn H và Tòng Văn H1 lấy tổng số tiền 200.000 đồng. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Văn Q, Cơ quan điều tra thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,06 gam. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi bị cáo Hà Văn Q thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là vấn đề nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Hà Văn Q là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích mua trái phép chất ma túy ngoài việc sử dụng cho bản thân, bị cáo còn bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác nhằm thu lời bất chính.

[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hà Văn Q có tuổi đời còn trẻ và được sinh ra trong gia đình lao động, nhưng không chịu khó tu dưỡng, làm ăn chân chính mà lại ăn chơi đua đòi, bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có một mức án tương xứng với các hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp chính là trồng trọt, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng: Đối với 0,06 gam Heroine thu giữ của Hà Văn Q đã dùng làm mẫu vật gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không xem xét. Số tiền 200.000 đồng, Hà Văn Q có được do bán trái phép chất ma túy mà có, chưa thu giữ, cần phải truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 50.000 đồng hai đối tượng Đỗ Văn H và Tòng Văn H1 tự nguyện cho bị cáo Q, xác định không phải tiền công H và H1 trả cho Q để nhờ mua Heroine, bị cáo Q đã tiêu hết nên không xem xét; 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 ví màu đen bị cáo Q dùng để cất dấu Heroine, 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Đỗ Văn H và Tòng Văn H1 và 02 phong bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

[8]. Về vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H3, bị cáo Hà Văn Q khai mua của một người phụ nữ có con tên là K, kết quả xác minh xác định người này tên Vừ Thị H4, tuy nhiên qua đối chất, H4 không thừa nhận bán trái phép chất ma tuý cho Hà Văn Q, ngoài lời khai của bị cáo, không có chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý Vừ Thị H4 về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tòng Văn H1 và Đỗ Văn H, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[9]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo đề nghị miễn án phí nên sẽ được miễn án phí HSST.

[10]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2024.
  3. Về vật chứng: Truy thu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền bán trái phép chất mà có của Hà Văn Q để sung vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu 01 ví màu đen, 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng và 02 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.

    Vật chứng, đồ vật nêu trên (trừ số tiền 200.000 đồng) hiện đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  4. Về án phí: Bị cáo Hà Văn Q được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Q bán trái phép chất ma tuý cho hai người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger